vanban.org

Bản án 399/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/8/2021. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Bùi Xuân Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 399/2021/HS-ST
Ngày 11 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Hương. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà Giang và ông Lê Văn Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Cường, kiểm sát viên.

Ngày 11/11/2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 375/2021/TLST-HS ngày 21/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 582/2021/QĐXXST-HS ngày 01/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Xuân Đ. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1976. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối 2, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Nghề ngH: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Xuân O (đã chết) và con bà: Phan Thị H, sinh năm 1950; Vợ: Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1978 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 1998; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: - Ngày 22/3/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tại Bản án số 92/2012/HSST. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 14/9/2013;

- Ngày 16/3/2014 bị Ủy ban nhân dân phường Q áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường 6 tháng tại Quyết định số 04/QĐ-UB. Chấp hành xong ngày 16/9/2014;

- Ngày 11/02/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 25 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 40/2015/HSST. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 21/7/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người bị hại: - Anh Lô Tuấn H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khối 3, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Phạm Văn K, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khối 2, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 31/8/2021 Bùi Xuân Đ đi bộ từ nhà đến trụ sở Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Vinh để xác nhận giấy tờ cá nhân. Khi đến Đ đi vào phía bên trái cổng chính, khi đi qua phòng làm việc thứ hai, ở tầng 1, Đ phát hiện trong phòng có anh Lô Tuấn H và anh Phạm Văn Kh đều là cán bộ quy tắc đô thị phường Q đang nằm ngủ, trên bàn có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương, số IMEL 357186103034324 của anh H và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, số IMEL 864361059921214 của anh Kh. Lúc này Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Đ lén lút đi vào phòng làm việc và lấy trộm 02 chiếc điện thoại di dộng nêu trên, đi ra cổng chính và đi bộ về nhà cất giấu số tài sản mà mình vừa trộm cắp được.

Đến khoảng 18 giờ 15 phút ngày 31/8/2021 sau khi biết sự việc đã bị phát hiện, Bùi Xuân Đ đã đến Công an phường Q, thành phố Vinh đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp 02 (hai) chiếc điện thoại mà mình trộm cắp được. Quá trình điều tra Bùi Xuân Đ đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 220/KL-ĐGTS ngày 03/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương, số IMEL 357186103034324 đã qua sử dụng có giá trị trên địa bàn thành phố Vinh tại thời điểm ngày 31/8/2021 có trị giá 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng). 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, số IMEL 864361059921214 đã qua sử dụng có giá trị trên địa bàn thành phố Vinh tại thời điểm ngày 31/8/2021 có trị giá 2.000.000 đồng (Hai triệu trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản định giá là 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã qua sử dụng. Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lô Tuấn H và anh Phạm Văn Kh.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại anh Lô Tuấn H và anh Phạm Văn Kh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Cáo trạng số 410/CT-VKS-TPV ngày 20/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, giữ nguyên tội danh đã truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Xuân Đ từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự nên miễn xét. Áp dụng điều 136 BLTTHS, điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân Đ đồng ý với nội dung Cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Bùi Xuân Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Vinh, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản Bùi Xuân Đ đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh của anh Lô Tuấn H và anh Phạm Văn Kh có tổng trị giá 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu cá nhân của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố Vinh. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại đã lén lút lấy trộm tài sản là hành vi trái pháp luật, đáng lên án. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét tình tiết giảm nhẹ thấy rằng bị cáo sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả giao nộp tài sản trả lại cho người bị hại; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú, gia đình bị cáo thờ cúng liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốVinh là có căn cứ, cần chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Bùi Xuân Đ lao động tự do

thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã qua sử dụng. Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lô Tuấn H và anh Phạm Văn Kh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra người bị hại anh Lô Tuấn H và anh Phạm Văn Kh đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì, không có ý kiến gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/8/2021.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Xuân Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án sơ thẩm hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ