vanban.org

Bản án 398/2019/LĐ-PT — Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/05/2019 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN; sửa một phần bản án sơ thẩm về quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi tiền lương”.

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ng V Đ, buộc bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN có trách nhiệm trả cho ông Đ nửa tháng tiền lương của tháng 12 năm 2017 là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), thực hiện kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Ng V Đ - Công ty cổ phần V M QT VN"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN; sửa một phần bản án sơ thẩm về quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi tiền lương”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 398/2019/LĐ-PT
Ngày: 09/5/2019
V/v: “Tranh"chấp"đòi"tiền"lương"”"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa:"

Bà Lê Thị Thúy Hoa

Các"Thẩm"phán:"

Ông Bùi Liên Minh.

Ông Hồ Minh Cường "

-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Hoàng Minh Dự - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

-" Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" Thành" phố" Hồ" Chí" Minh" tham" gia" phiên"tòa: Ông Huỳnh Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 17/2019/TLPT-LĐ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về việc: “Tranh chấp đòi tiền lương”.

Do bản án lao động sơ thẩm số 48/2018/LĐ-ST ngày: 06-11-2018 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1708/2019/QĐ-PT ngày 19/4/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ng V Đ

Địa chỉ: số 56/26B Ch D, phường L Ch, quận T Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty cổ phần V M QT VN.

Địa chỉ: số 01 đường BTH, Phường K, Quận M, TP.Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông D C Đ.

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN.

Ông Ng V Đ có mặt; Công ty Cổ phần V M QT VN có Đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2018, của nguyên đơn ông Ng V Đ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Ngày 28/11/2016 ông Đ ký hợp đồng lao động với công ty cổ phần V M QT VN, thời hạn 1 năm kể từ ngày 28/01/2017 đến 27/01/2018, lương 6.000.000 đồng một tháng. Thử việc 02 tháng, lương là 5.100.000 đồng, trong đó có tiền bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội. Trong quá trình làm việc công ty cổ phần V M QT VN trả lương đầy đủ, cách thức nhận lương tiền mặt và chuyển khoản, lương tháng này trả vào ngày 10 tháng sau. Đầu tháng 12 năm 2017 ông Đ ứng lương của công ty là 3.000.000 đồng/tháng, sau đó ông Đ được giám đốc điều hành công ty cử đi công tác tại Hà Nội từ ngày 03-9/12/2017 học về phần mềm vi tính để ứng dụng trong bệnh viện, nhưng không ký bất kỳ cam kết đạo tạo nào với công ty. Sau khi đi công tác về, ông Đ vẫn làm tiếp cho công ty được khoảng 20 ngày mà không thấy công ty ký kết hợp đồng với đối tác để triển khai phần mềm tại công ty. Do ông Đ biết phần mềm bị lỗi nên chưa được triển khai. Cuối tháng 12 năm 2017 ông Đ nộp đơn xin nghỉ việc, mà chưa nhận lương của tháng 12 năm 2017. Khoảng đầu tháng 1 năm 2018 ông Đ nhận được quyết định cho nghỉ việc của giám đốc điều hành công ty. Ngày 10/01/2018 lẽ ra ông Đ được nhận nửa tháng lương còn lại của tháng 12 năm 2017 là 3.000.000 đồng nhưng chỉ nhận được số tiền 2.449.000 đồng lương của tháng 12 năm 2017 + lương của tháng 01 năm 2018 vào ngày 12/02/2018. Như vậy công ty còn nợ ông Đ nửa tháng lương của tháng 12/2017 là 3.000.000 đồng. Nên ông Đ tôi khởi kiện yêu cầu công ty cổ phần V M QT VN trả số tiền lương còn thiếu là 3.000.000 đồng.

Bị đơn công ty cổ phần V M QT VN có bà L Th Ng đại diện theo ủy quyền trình bày: Thừa nhận việc ông Đ và công ty có quan hệ lao động, lương, bảo hiểm xã hội, bảo y tế, đúng như lời ông Đ trình bày. Về việc ông Đ yêu cầu công ty trả nửa tháng tiền lương của tháng 12/2017, công ty không đồng ý vì, sau khi ông Đ nộp đơn nghỉ việc, giám đốc điều hành ký quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Đ từ ngày 10/01/2018. Công ty đã giải quyết đủ về lương cho ông Đ. Việc ông Đ cho rằng giám đốc điều hành cử ông Đ đi công tác là không có vì công ty không có quyết định cử ông Đ đi học ngoài Hà Nội. Quyết định mà ông Đ cung cấp tại Tòa án là giả mạo vì chỉ có chữ ký của ông Tr H N giám đốc điều hành công ty, nhưng lại không đóng dấu của công ty và không đóng dấu chức danh của ông Nam. Trong khi đó ông Nam là người giữ dấu của công ty và con dấu tên của ông Nam. Thực tế tháng 12/2017 ông Đ nghỉ làm nhiều ngày, số ngày chấm công là 13/26. Do đó công ty đã giải quyết lương theo ngày công thực tế mà ông Đ đi làm. Nên công ty không nợ tháng lương nào của ông Đ. Công ty đồng ý hỗ trợ cho ông Đ 1.000.000 đồng.

Tại bản án lao động sơ thẩm số 48/2018/LĐ-ST ngày: 06-11-2018 Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ng V Đ, buộc bị đơn công ty cổ phần V M QT VN có trách nhiệm trả cho ông Đ nửa tháng tiền lương của tháng 12 năm 2017 là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), thực hiện kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/01/2019, Công ty Cổ phần V M QT VN có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không buộc Công ty phải trả cho ông Ng V Đ một nửa tháng lương tương đương với số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Ng V Đ trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo hợp lệ vì nộp trong thời hạn pháp luật qui định. Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật.

Về đối tượng khởi kiện và quan hệ tranh chấp: Ông Ng V Đ khởi kiện Công ty Cổ phần V M QT VN yêu cầu trả tiền lương còn thiếu của tháng 12/2017 là tranh chấp tiền lương theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động là chưa chính xác.

Về nội dung:

Xét lời trình bày của Công ty Việt Nga cho rằng tháng 12/2017 thì ông Ng V Đ nghỉ làm nhiều ngày nên số ngày chấm công thực tế chỉ là 13/26 ngày công nên Công ty đã giải quyết theo số ngày lương thực tế của ông Đ đi làm. Căn cứ Bảng chấm công từ ngày 01/12/2017 đến ngày 31/2017 của Công ty Cổ phần V M QT VN thì ông Đ có vào Công ty làm việc 13 ngày và vắng 13 ngày. Nhận thấy: Quyết định cử nhân viên đi công tác ngày 29/11/2017 có nội dung: Ông Ng V Đ đi công tác tại Hà Nội, thời gian từ ngày 03/12/2017 đến ngày 09/12/2017; phương tiện đi lại: máy bay, xe; nội dung: đi học phần mềm quản lý bệnh viện. Mặc dù Quyết định cử nhân viên đi học ngày 29/11/2017 chưa đóng dấu tuy nhiên căn cứ nội dung các email trao đổi giữa ông Ng V Đ với các bộ phận khác trong công ty thể hiện ông Đ đi công tác tại Hà Nội trong thời gian từ ngày 03/12/2017 đến ngày 09/12/2017.

Đối chiếu với bảng chấm công tháng 12/2017 của Công ty Cổ phần V M QT VN thì số ngày ông Ng V Đ không đi làm mà không có lý do là 07 ngày. Tại phiên tòa, ông Ng V Đ cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh việc ông có làm việc trong các ngày 12, 15, 20, 21, 23, 25 và 28. Như vậy số lương của ông Ng V Đ trong tháng là 4.385.000 (bốn triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn) đồng, ông Đ đã tạm ứng là 3.000.000 (ba triệu) đồng nên Công ty Cổ phần V M QT VN phải trả cho ông Ng V Đ số tiền là: 1.385.000 (một triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn) đồng. Từ những phân tích trên, căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về phần tiền lương mà Công ty Cổ phần V M QT VN phải trả cho ông Ng V Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần V M QT VN nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Đồng thời, Công ty Cổ phần V M QT VN có Đơn xin xét xử vắng mặt do ông Dương Chí Đạt ký ngày 06/5/2019. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN về việc không trả thêm nửa tháng lương cho ông Ng V Đ:

Xét thấy, ông Đ vào làm việc cho Công ty cổ phần V M QT VN từ ngày 28/01/2017, cuối tháng 12/2017 ông Đ gửi đơn xin nghỉ việc. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động, ông Ng V Đ cho rằng Công ty Cổ phần V M QT VN vẫn chưa trả cho ông một nửa tiền lương của tháng 12/2017 là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.

Công ty Cổ phần V M QT VN cho rằng ông Ng V Đ không được cử đi công tác tại Hà Nội. Tuy nhiên, trên căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bao gồm: Kế hoạch công tác đi Hà Nội; Báo cáo tình hình công tác; các email trao đổi giữa ông Ng V Đ với các bộ phận khác trong Công ty Cổ phần V M QT VN: email ngày 07/12/2017 của ông Ng V Đ gửi Ban giám đốc có nội dung báo cáo tình hình tập huấn phần mềm quản lý tại Bệnh viện Mắt Việt Nga Hà Nội (từ ngày 04 đến ngày 09/12/2017) và lịch công tác đến hết ngày 09/12/2017, email ngày 28/11/2017 của Trưởng phòng Nhân sự về kế hoạch đi Hà Nội của bộ phận IT với nội dung về nơi lưu trú, công tác phí, hỗ trợ xử lý công việc IT; email của nhân viên phòng Nhân sự gửi ông Ng V Đ gửi ông Ng V Đ về thông tin chuyến bay khứ hồi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Thành phố Hà Nội. Như vậy, các chứng cứ nói trên đều thể hiện có việc Công ty Cổ phần V M QT VN cử ông Ng V Đ đi công tác tại Hà Nội từ ngày 03/1/2017 đến ngày 09/12/2017. Công ty Cổ phần V M QT VN cho rằng Quyết định cử nhân viên đi công tác của ông Ng V Đ là giả tạo nhưng không có đầy đủ căn cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Vì vậy, Công ty Cổ phần V M QT VN phải trả lương cho ông Ng V Đ trong khoản thời gian này là phù hợp.

Tại Đơn kháng cáo đề ngày 14/01/2019, Công ty Cổ phần V M QT VN cho rằng từ sau khi đi công tác thì ông Ng V Đ không có mặt đầy đủ trong 08 ngày công còn lại của tháng 12/2017 nên không có căn cứ trả lương cho ông Ng V Đ. Xét thấy, trong thời gian từ sau ngày 09/12/2017, mặc dù cho rằng ông Ng V Đ không có mặt đầy đủ nhưng Công ty Cổ phần V M QT VN không ban hành bất kỳ hình thức kỷ luật nào cho ông Ng V Đ. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Ng V Đ cho rằng Bảng chấm công Công ty Cổ phần V M QT VN đưa ra là không chính xác và không có chữ ký xác nhận của nguyên đơn.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo của của bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN và buộc Công ty Cổ phần V M QT VN phải trả cho ông Ng V Đ số tiền là 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Ng V Đ thể hiện quan hệ tranh chấp trong vụ án này là Tranh chấp đòi tiền lương do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động” là chưa chính xác. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần điều chỉnh lại quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp đòi tiền lương”.

[3] Về án phí: Công ty Cổ phần V M QT VN phải chịu án phí lao động phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0016928 ngày 21/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận M.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 32; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 36, 37 Bộ luật lao động;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12; khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN; sửa một phần bản án sơ thẩm về quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi tiền lương”.

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ng V Đ, buộc bị đơn Công ty Cổ phần V M QT VN có trách nhiệm trả cho ông Đ nửa tháng tiền lương của tháng 12 năm 2017 là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), thực hiện kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án (bị đơn) không thi hành các khoản nói trên, thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

[2]. Án phí:

Án phí lao động sơ thẩm: Công ty Cổ phần V M QT VN phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Án phí lao động phúc thẩm: Công ty Cổ phần V M QT VN phải chịu án phí lao động phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0016928 ngày 21/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi"nhận:

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân Tối cao;

- Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM;

- Viện KSND Cấp cao tại TP.HCM;

- Viện KSND Thành phố Hồ Chí Minh;"

- Chi cục THADS Quận M;

- Tòa án nhân dân Quận M;

- Viện KSND Quận M;

- Các đương sự;

Lê Thị Thúy Hoa

- Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ