vanban.org

Bản án 396/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 396/2021/HS-ST
Ngày 06 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thiện.

2. Bà Lê Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân T phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân T phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 428/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 419/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1977 tại T phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thƣờng trú: Số 18/1 P, Phƣờng 9, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số 171/11/6, tổ 47, khu phố 4, phƣờng T, Quận 12, T phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Q tịch: Việt N; con ông Trần Hữu C (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; chồng tên Nguyễn Công K, sinh năm 1972; bị cáo có 02 ngƣời con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 16/5/2020 đến ngày 25/5/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, ngày 29/11/2021 bị bắt tạm giam cho đến nay.

Người bào chữa cho bị cáo M: Luật sƣ Lê Văn N – Văn phòng luật sƣ N Sài Gòn thuộc Đoàn Luật sƣ T phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: A75/6D/46 Bạch Đằng, Phƣờng 2, quận T, T phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

2. Nguyễn Công T, sinh năm 2000 tại T phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thƣờng trú: Số 18/1 P, Phƣờng 9, quận G, T phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: Số 171/11/6, tổ 47, khu phố 4, phƣờng T, Quận 12, T phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Q tịch: Việt N; con ông Nguyễn Công K, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1977; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ tạm giam từ ngày 29/11/2021 cho đến nay.

3. Đinh Khắc H, sinh năm 1993 tại T phố Hồ Chí Minh; nơi thƣờng trú: Tổ 3A, ấp 4A, xã B, Huyện Củ Chi, T phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Q tịch: Việt N; con ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Phúc T, sinh năm 1972; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2021 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lƣơng Kiến Q, sinh năm 1970; trú tại: A 47 Bis khu phố B, phƣờng B, T phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

2. Bà Đặng Hồng T, sinh năm 1969; trú tại: 235/2 khu phố T, phƣờng A, T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Q, sinh năm 1996; Vắng mặt.

2. Ông Thái Văn S, sinh năm 1983; Vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1990; Vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Công K, sinh năm 1972; Có mặt.

5. Ông Ngô Thanh T, sinh năm 1972; Vắng mặt.

6. Ông Trần Hữu T, sinh năm 1978; Vắng mặt.

7. Ông Đỗ Nguyễn Bảo K, sinh ngày 17/5/2003. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trần Thị Tuyết M buôn bán hoa tƣơi tại cửa hàng hoa Ánh Tuyết, địa chỉ kiốt: Số 24/1 đƣờng N, thuộc khu vực C, khu phố T, phƣờng A, Thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng ông Lƣơng Kiến Q, sinh năm: 1970, hộ khẩu thƣờng trú: A47Bis khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng và bà Đặng Hồng T, sinh năm: 1969, hộ khẩu thƣờng trú: 235/2 khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng cùng buôn bán hoa tƣơi tại địa chỉ: 32/1A đƣờng Nguyễn Chí T, thuộc khu vực Chợ B, khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, cách kiốt của M khoảng 30 mét.

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/5/2020, giữa ông Q và bà Tuyết M có xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau dẫn đến ông Q dùng tay đánh vào mặt bà M, còn bà M thì dùng chổi đuổi đánh ông Q chạy về kiốt của mình. Sau đó, bà M gọi điện cho chồng là ông Nguyễn Công K, sinh năm: 1972, hộ khẩu thƣờng trú: vùng 6, thôn L, thị xã S, tỉnh Phú Yên, con ruột là Nguyễn Công T và em ruột là Nguyễn Thị Ngọc M đến để giải quyết mâu thuẫn. Lúc này, Nguyễn Công T gọi điện cho Đinh Khắc H (là anh họ của T gọi bà Tuyết M là cô) đến hỗ trợ để giải quyết mâu thuẫn cho bà M. Cùng lúc đó, ông Trần Hữu T, sinh năm: 1978, hộ khẩu thƣờng trú: 18/1 Phạm Văn Chiêu, Phƣờng 9, quận Gò Vấp, T phố Hồ Chí Minh là em ruột của bà Tuyết M nhận đƣợc thông tin từ mẹ của Tuấn là bà Nguyễn Thị Nhung, sinh năm: 1952, hộ khẩu thƣờng trú: 18/1 Phạm Văn Chiêu, Phƣờng 9, quận Gò Vấp, T phố Hồ Chí Minh về việc bà Tuyết M xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát tại tiệm hoa của bà Tuyết M nên đến để xem xét sự việc.

Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, lần lƣợt Nguyễn Công T, Nguyễn Thị Ngọc M, Đinh Khắc H, Trần Hữu Tuấn, Nguyễn Công Khoa cùng sự xuất hiện của 02 đối tƣợng N thanh niên (chƣa xác định rõ lai lịch, địa chỉ, không rõ do ai gọi đến) cùng đến tiệm hoa của bà Tuyết M tại địa chỉ: số 24/1 đƣờng Nguyễn Chí Thanh, thuộc khu vực Chợ Búng, khu phố Thạnh Hòa B, phƣờng An Thạnh, T phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng rồi cùng nhau đi đến kiốt bán hoa của vợ chồng ông Q và bà Thu. Tại đây, hai bên tiếp tục xảy ra cự cãi qua lại rồi Tuyết M cùng với em là Ngọc M xông đến dùng tay, chân đánh vào vùng đầu, mặt của bà Đặng Hồng Thu, còn T và H thì xông vào bên trong kiốt dùng tay, chân và cây gỗ đánh ông Lƣơng Kiến Q. Trong lúc xô xát lẫn nhau, một đối tƣợng (chƣa rõ lai lịch, địa chỉ mặc áo thun xanh, quần dài xám, đội mũ bảo hiểm màu xanh, mang khẩu trang) dùng 01 (một) cây kéo cắt hoa, dài khoảng 20cm đâm vào ngực trái của ông Q gây thƣơng tích và một đối tƣợng khác (chƣa rõ lai lịch, địa chỉ mặc áo sọc đỏ, quần ngắn) cầm 01 (một) đoạn cây gỗ tham gia đánh vào ngƣời ông Q. Ông Nguyễn Công Khoa và Trần Hữu Tuấn đứng bên ngoài không tham gia đánh thấy vậy nên vào can ngăn. Sau khi các đối tƣợng trên đi về ki ốt bán hoa của Tuyết M, thì ông Q cầm 01 (một) đoạn cây chạy ra đƣờng đuổi theo đánh lại thì bị đối tƣợng cầm kéo đâm lúc này tiếp tục tay trái cầm kéo, tay phải cầm gạch đe dọa đánh ông Q. Do vụ việc xảy ra tại khu vực có nhiều ngƣời dân sinh sống, qua lại truy hô có công an đến nên các đối tƣợng nhanh chóng tẩu thoát rời khỏi hiện trƣờng. Ông Q bị thƣơng đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu sau đó cHển đến Bệnh viện Chợ Rẫy để cấp cứu và điều trị. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) thanh kim loại màu trắng dạng ống, dài 1,2 mét; 01 (một) thanh kim loại dạng ống, dài 1,11 mét, có đính viền kim loại dạng tròn màu trắng; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,42 mét, màu nâu đỏ, đầu lớn, đầu nhỏ; 01 (một) viên gạch ống kích thƣớc 08x06x18 cm, màu đỏ, dạng gạch 04 (bốn) lỗ, bể nham nhở; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0905350705 thu giữ của Trần Thị Tuyết M.

Trong quá trình điều tra, ông Lƣơng Kiển Q có đơn yêu cầu xử lý hình sự các đối tƣợng đã gây thƣơng tích cho ông. Đối với 02 (hai) đối tƣợng (không rõ lai lịch, địa chỉ) xuất hiện tại hiện trƣờng có hành vi sử dụng kéo, cây gỗ, gạch tham gia đánh trực tiếp gây thƣơng tích cho ông Lƣơng Kiến Q với tỷ lệ thƣơng tật là 01%, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T phố Thuận An đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác minh đƣợc lai lịch, địa chỉ của các đối tƣợng trên. Đồng thời, qua điều tra xác định các bị cáo và những ngƣời có mặt tại hiện trƣờng đều không kêu gọi những đối tƣợng trên đến và không biết các đối tƣợng trên là ai, việc tham gia sự việc xô xát và gây ra thƣơng tích cho bị hại Lƣơng Kiến Q thì các bị cáo không có sự bàn bạc, xúi giục gì đối với các đối tƣợng. Do đó ngày 28/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Thuận An đã có Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 389 về tội: Cố ý gây thƣơng tích để tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau theo đúng quy định pháp luật là có căn cứ

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 209/2020/GĐPY ngày 25/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng xác định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại của ông Lƣơng Kiến Q là 1% (vết thƣơng ngực trái khoảng liên sƣờn II đƣờng trung đòn 1,6x0,2cm, sẹo lành; sƣng nề vùng thái dƣơng – trán trái đã lành, không còn dấu tích)

Cáo trạng số 323/CT-VKS-TA ngày 31/8/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân T phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự; Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Kiểm sát viên đề nghị áp dụng:

- Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt:

- Bị cáo Trần Thị Tuyết M từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm.

- Bị cáo Nguyễn Công T từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng.

- Xử phạt bị cáo Đinh Khắc H từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 (một) thanh kim loại màu trắng dạng ống, dài 1,2 m; 01 (một) thanh kim loại dạng ống, dài 1,11 m, có đính viền kim loại dạng tròn màu trắng; 01 (một) đoạn cây gỗ dải 1,42 m, màu nâu đỏ, đầu lớn, đầu nhỏ; 01 (một) viên gạch ống kích thƣớc 08x06x18 cm, màu đỏ, dạng gạch 04 (bốn) lỗ, bể nham nhở là công cụ các bị cáo sử dụng nhằm mục đích thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0905350705 của Trần Thị Tuyết M là phƣơng tiện bị cáo liên lạc các đối tƣợng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lƣơng Kiến Q và bà Đinh Hồng Thu đã nhận đủ số tiền 19.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với Nguyễn Công Khoa và Trần Hữu Tuấn có mặt tại hiện trƣờng có hành vi can ngăn các đối tƣợng thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Thuận An không xem xét xử lý là có căn cứ.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Tuyết M trình bày:

Về nhân thân: Các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự; Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Xuất phát từ sự việc trên có phần lỗi của ông Q, bà Thu đã ghen tị về việc buôn bán đối với gia đình bị cáo M. Ông Q đã có hành động tát bị cáo M nên mới có sự việc xảy ra nhƣ vậy nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho các bị cáo để các bị cáo sớm về làm lại cuộc đời.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Lời nói sau cùng, các bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử đƣợc giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Kiến Q, bà Đinh Hồng Thu trình bày: Thống nhất toàn bộ nội dung cáo trạng ông Lƣơng Kiến Q, bà Đinh Hồng Thu đã nhận đủ số tiền bồi thƣờng là 19.000.000 đồng từ gia đình các bị cáo và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do có mâu thuẫn về kinh doanh bán hoa giữa bị cáo Trần Thị Tuyết M và vợ chồng ông Lƣơng Kiến Q, bà Đặng Hồng Thu tại khu vực chợ Búng, khu phố Thạnh Hòa B, phƣờng An Thạnh, T phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/5/2020 ông Q đến trƣớc tiệm hoa của bị cáo M nhìn, bị cáo M lấy chổi đuổi ông Q, ông Q quay lại tát bị cáo M. Do bị cáo M bị ông Q tát vào mặt nên khoảng 12 giờ ngày 15/5/2020 các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Thị Ngọc M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H có hành vi tụ tập đồng bọn, sử dụng cây gỗ, cây bằng kim loại, kéo, gạch làm hung khí đánh nhau trên đoạn đƣờng Nguyễn Chí T thuộc khu vực chợ Búng, phƣờng A là nơi tập trung đông ngƣời và phƣơng tiện giao thông qua lại, gây ảnh hƣởng xấu an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây thƣơng tích cho ông Lƣơng Kiến Q 01%. Hành vi của các bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu T tội Gây rối trật tự công cộng tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân T phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với hành vi của từng bị cáo.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm, nhƣng vì mâu thuẫn nhỏ với nhau, các bị cáo không tìm cách ứng xử khác phù hợp với đạo đức, pháp luật mà lại dùng hung khí là gậy gộc để giải quyết mâu thuẫn tại nơi tập trung đông ngƣời. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh, hoạt động bình thƣờng ở nơi công cộng, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tƣơng xứng với tội phạm đã thực hiện, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về đồng phạm: Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc cụ thể, trong đó: Bị cáo Trần Thị Tuyết M là ngƣời nảy sinh ý định, các bị cáo khác tham gia với vai trò giúp sức nên nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo Trần Thị Tuyết M cao hơn các bị cáo khác.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; có trình độ học vấn thấp, bị cáo Trần thị Tuyết M không biết chữ; việc xảy ra sự việc trên có lỗi một phần của ông Lƣơng Kiến Q nên các bị cáo đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hƣớng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho các bị cáo nói trên hƣởng án treo, tự cải tạo ở địa phƣơng.

Trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa nếu các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

Các đối tƣợng Nguyễn Công K và Trần Hữu T có mặt tại hiện trƣờng có hành vi can ngăn các đối tƣợng thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Thuận An không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tƣợng Nguyễn Thị Ngọc M đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, ra quyết định truy nã và tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Ông Lƣơng Kiến Q có đơn yêu cầu xử lý hình sự 02 đối tƣợng cùng gây thƣơng tích cho ông Q. Hiện 02 đối tƣợng (không rõ lai lịch, địa chỉ) xuất hiện tại hiện trƣờng có hành vi sử dụng kéo, cây gỗ, gạch tham gia đánh trực tiếp gây thƣơng tích cho ông Lƣơng Kiến Q với tỷ lệ thƣơng tật là 01%, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Thuận An đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ của các đối tƣợng trên. Đồng thời, qua điều tra xác định các bị cáo và những ngƣời có mặt tại hiện trƣờng đều không kêu gọi những đối tƣợng trên đến và không biết các đối tƣợng trên là ai, việc tham gia sự việc xô xát và gây thƣơng tích cho ông Lƣơng Kiến Q thì các bị cáo không có sự bàn bạc, xúi giục gì đối với các đối tƣợng. Do đó, ngày 28/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Thuận An có Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 389 về tội Cố ý gây thƣơng tích để tiếp tục xác minh, điều tra xử lý theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại đối với hành vi này sẽ giải quyết ở vụ án khác khi có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) thanh kim loại màu trắng dạng ống, dài 1,2 m; 01 (một) thanh kim loại dạng ống, dài 1,11 m, có đính viền kim loại dạng tròn màu trắng; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,42 m, màu nâu đỏ, đầu lớn, đầu nhỏ; 01 (một) viên gạch ống kích thƣớc 08x06x18 cm, màu đỏ, dạng gạch 04 (bốn) lỗ, bể nham nhở là công cụ các bị cáo sử dụng nhằm mục đích thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0905350705 của Trần Thị Tuyết M là phƣơng tiện bị cáo liên lạc các đối tƣợng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Điều 106 và Điều 136, khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1.Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 06/12/2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án ngày 06/12/2021.

Xử phạt bị cáo Đinh Khắc H 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án ngày 06/12/2021.

Giao các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T cho Ủy ban nhân dân phƣờng Thạnh Xuân, Quận 12, T phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân phƣờng Thạnh Xuân, Quận 12, T phố Hồ Chí Minh phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Quận 12 để tiến hành thủ tục theo quy định tại tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Giao bị cáo Đinh Khắc H cho Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, Hện Củ Chi, T phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Hện Củ Chi để tiến hành thủ tục theo quy định tại tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bán án mới theo quy định của pháp luật.

Trả tự do cho các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại màu trắng dạng ống, dài 1,2 m; 01 (một) thanh kim loại dạng ống, dài 1,11 m, có đính viền kim loại dạng tròn màu trắng; 01 (một) đoạn cây gỗ dải 1,42 m màu nâu đỏ, đầu lớn, đầu nhỏ; 01 (một) viên gạch ống kích thƣớc 08x06x18 cm, màu đỏ, dạng gạch 04 (bốn) lỗ, bể nham nhở.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong có sim số 0905350705, số sê ri 1: 357741109391050, số sê ri 2: 357755100391059 (không kiểm tra đƣợc số sim và tình trạng bên trong máy) của Trần Thị Tuyết M.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2021).

3. Về án phí: Các bị cáo Trần Thị Tuyết M, Nguyễn Công T, Đinh Khắc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Cỡ chữ