vanban.org

Bản án 396/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2004 và Nguyễn Bảo T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Thanh S phải cấp dưỡng nuôi …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 396/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 19-7-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị M và
anh S.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Việt Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Văn Giản

Bà Nguyễn Thị Kim Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trung Kiên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 19-7-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số 59/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số nhà 206 khu 3 tầng số 17 đường T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Hiện cư trú tại: Số nhà 30/191 đường S, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1983; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số nhà 186 phố G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Hiện cư trú tại: Số nhà 30/191 đường S, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị M có mặt. Anh S vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09-4-2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh S tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N vào ngày 12 tháng 3 năm 2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không hòa hợp về lối sống, tính cách, anh S không san sẻ khó khăn về kinh tế với vợ. Chị đã hai lần làm đơn gửi đến Tòa án xin ly hôn nhưng vì con nên chị lại rút đơn về. Chị cũng đã nhiều lần nói chuyện với anh S để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng do mâu thuẫn đã kéo dài vợ chồng vẫn tiếp tục bất hòa. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Thanh S.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị M xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2004 và Nguyễn Bảo T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Chị không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi cả hai con chung.

3. Về tài sản, công nợ và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố N đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh Nguyễn Thanh S theo quy định của pháp luật nhưng anh S không đến tham gia tố tụng nên không có lời khai tại Tòa án.

Tòa án tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân và con chung của các đương sự, đại diện chính quyền địa phương nơi chị M và anh S cư trú đã cung cấp: Quá trình chung sống chị M và anh S có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không hòa hợp về lối sống tính cách và lý do kinh tế, anh S không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng hay cãi chửi nhau tổ dân phố đã nhiều lần phải sang nhắc nhở. Chị M và anh S có 02 con chung, hiện đang ở với vợ chồng chị M, anh S. Nay chị M làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Thanh S, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Cháu Nguyễn Kim A có đơn đề nghị được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:

- Về quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các qui định của pháp luật. Các đương sự đã được Tòa án đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành nghiêm túc theo giấy triệu tập của Tòa án. Bị đơn không tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S.

Về con chung: Căn cứ Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2004 và Nguyễn Bảo T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu; anh Nguyễn Thanh S không có đơn phản tố nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố N vào ngày 12 tháng 3 năm 2004 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng nảy sinh những bất đồng, không hòa hợp về lối sống, tính cách và vì lý do kinh tế, anh S không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng hay cãi vã, có lời nói xúc phạm danh dự của nhau. Mặc dù hai bên đã được Tòa án hòa giải để đoàn tụ gia đình nhưng anh S không đến tham gia còn chị M yêu cầu Tòa án không hòa giải nữa và đề nghị giải quyết ly hôn. Qua đó cho thấy, tình cảm vợ chồng của chị M và anh S không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nuôi con chung:

Xét thấy, anh S không có lời khai thể hiện quan điểm về con chung; chị M có công việc, thu nhập ổn định và nơi ở rõ ràng. Cháu Nguyễn Kim A có đơn đề nghị được ở với chị M. Cháu Nguyễn Kim A sinh ngày 09 tháng 10 năm 2004 tính đến thời điểm chị M và anh S ly hôn đã trên 07 tuổi nên nguyện vọng này của cháu Kim A cần được ghi nhận theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cháu Nguyễn Bảo T còn nhỏ, giới tính là nữ nên chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sẽ phù hợp hơn. Vì vậy, để ổn định cuộc sống và đảm bảo lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2004 và Nguyễn Bảo T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản, công nợ và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu; anh Nguyễn Thanh S không có lời khai thể hiện quan điểm của mình nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2004 và Nguyễn Bảo T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Thanh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2.1 Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh S đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai số 0002200 ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Nam Định.

4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thanh S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ