vanban.org

Bản án 395/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Ngọc L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc L được ly hôn với ông Phạm Anh T. Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh H, sinh ngày 11/9/2013 cho bà Huỳnh Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời ông Phạm Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Huỳnh Ngọc L khởi kiện xin ly hôn ông Phạm Anh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Nguyên là Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ TP. Biên Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1721/2023/TLST – HNGĐ ngày 10/7/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 444/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1984.

Địa chỉ thường trú: ..., ấp Th T 1, xã T H, huyện H M, TP. H C M.

Địa chỉ liên hệ: ..., tổ 2, khu phố 2A, phường L B, TP. B H, tỉnh Đ N.

- Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ..., tổ 2, khu phố 2A, phường L B, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Bà L có đơn xin vắng mặt còn ông T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn – bà Huỳnh Ngọc L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Long Bình, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo đúng quy định của pháp luật và có tổ chức đám cưới trên cơ sở cả hai tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xung đột cãi vã. Vì không thể tìm được tiếng nói chung với ông T nên vào tháng 02 năm 2023 bà đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với ông T để giải thoát cho nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án qua phân tích, hòa giải hàn gắn đoàn tụ tại Tòa án vì muốn có thêm thời gian để vợ chồng có thể hàn gắn mâu thuẫn, tiếp tục cuộc sống hôn nhân, cùng nhau nuôi dạy con cái nên bà đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa. Tuy nhiên kể từ khi rút đơn khởi kiện cho đến nay, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn mà ngày càng trở nên trầm trọng. Hiện bà và ông T đã sống ly thân với nhau (khoảng 06 tháng nay), mạnh ai lấy sống, không ai còn quan tâm đến ai nữa.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau.

- Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung là cháu Phạm Quỳnh H, sinh ngày 11/9/2013. Ly hôn bà xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H vì cháu còn nhỏ lại là con gái nên cần sự quan tâm của Mẹ nhiều hơn, hơn nữa từ trước đến nay bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Tạm thời bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn - ông Phạm Anh T đã đƣợc Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng để biết đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng nhƣ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhƣng ông T đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Do đó, Tòa án không ghi nhận đƣợc ý kiến trình bày của ông Tuấn.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, riêng bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc L được ly hôn với ông Phạm Anh T.

+ Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh H, sinh ngày 11/9/2013 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà L trình bày là không có. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của ông T về các vấn đề này nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, các bên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

+ Về án phí HNGĐ-ST: Bà L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn - ông Phạm Anh T hiện cư trú tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là ông Phạm Anh T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để biết tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn là bà Huỳnh Ngọc L thì có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông T theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Huỳnh Ngọc L và ông Phạm Anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở cả hai tự nguyện nên căn cứ các Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện xin ly hôn được với ông T. Căn cứ Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng bà L xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông T đã kéo dài, không thể hàn gắn được và cương quyết xin ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau. Theo bà L thì bà và ông T chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xung đột cãi vã. Trước đây vì không thể tìm được tiếng nói chung nên vào tháng 02 năm 2023 bà đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với ông T nhưng bà đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng có thêm thời gian hàn gắn mâu thuẫn, tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân, cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên kể từ khi rút đơn khởi kiện cho đến nay, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn mà ngày càng trở trầm trọng. Hiện bà và ông T đã sống ly thân với nhau (khoảng 06 tháng nay), mạnh ai lấy sống, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Tại biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T ngày 20/7/2023 (BL số 21) thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T như thế nào thì địa phương không biết. Địa phương cũng không nhận được trình báo gì về mâu thuẫn phát sinh trong đời sống vợ chồng giữa bà L và ông T.

Tuy nhiên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng để ông T được biết đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và cũng không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của bà L. Điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T là có thật, bản thân ông T cũng không có ý hàn gắn, đoàn tụ và níu kéo cuộc sống hôn nhân với bà L.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà L với ông T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà L và ông T có 01 con chung là cháu Phạm Quỳnh H, sinh ngày 11/9/2013. Ly hôn bà L xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và tạm thời không yêu cầu không T phải chấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, ông T không đến Tòa án làm việc, cũng không thể hiện ý kiến của mình như thế nào về vấn đề con chung. Do cháu H còn nhỏ lại là con gái nên cần sự quan tâm, chăm sóc của Mẹ nhiều hơn và bản thân cháu H cũng có nguyện vọng được ở với Mẹ (bút lúc số 24). Hiện bà L có công việc, thu nhập ổn định đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Hg cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà L trình bày là không có. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của ông T về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, các bên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí HNGĐ-ST: Bà L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định.

Lời phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 9, 11 và 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 110 và 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Ngọc L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc L được ly hôn với ông Phạm Anh T.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh H, sinh ngày 11/9/2013 cho bà Huỳnh Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời ông Phạm Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí HNGĐ-ST: Bà Huỳnh Ngọc L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0008445 ngày 07/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

5. Bà L và ông T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.

Cỡ chữ