- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin Ly Hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Bá M
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 395/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 – 8 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Phùng
Ông Võ Thái Quân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 251/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Mai Bá M, sinh năm 1977.
Cư trú: Số B, đường H, phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu T, sinh năm 1980.
Cư trú: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang.
(anh M có đơn xin vắng mặt, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trình bày:
Ông Mai Bá M và bà Nguyễn Thị Diệu T do tự tìm hiểu, rồi kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 06/7/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì công việc cả hai không ổn định nên đi Thành phố làm ăn, sau đó do vấn đề kinh tế nên phát sinh mâu thuẫn và do bà T không quan tâm lo lắng gia đình, không còn hạnh phúc đến giữa năm 2016 thì bà T bỏ đi không liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông M xin ly hôn với bà T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Mai Bá V, sinh ngày 27/8/2008 và Mai Bá H, sinh ngày 15/5/2010. Ông M yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do cho thấy bị đơn không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn với bà T, về con chung ông M được tiếp tục nuôi con chung. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
Về nội dung giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng mâu thuẫn sau thời gian chung sống hạnh phúc, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn kinh tế trong gia đình, dẫn đến thường xuyên cự cãi. Vợ chồng ly thân từ năm 2016 cho đến nay, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn do rạn nứt tình cảm, không liên lạc với nhau đến nay nên ông M yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
Về con chung: có 02 con chung hiện đang sống cùng ông M, tiếp tục giao con chung cho ông M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: ông M trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: ông M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Bá M
1. Về hôn nhân gia đình: Ông Mai Bá M được ly hôn với bà Nguyễn Thị Diệu T
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49 ngày 06/7/2009 do Ủy ban nhân dân xã B Đông cấp không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao con chung tên Mai Bá V, sinh ngày 27/8/2008 và Mai Bá H, sinh ngày 15/5/2010 cho ông Mai Bá M được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến thành niên hoặc tự lập được. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Mai Bá M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về tài sản chung: Không
4. Về nợ: Ghi nhận ông M trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí: ông M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006183 ngày 26 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Bà Nguyễn Thị Diệu T không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân - UBND xã Hòa Lạc - TAND tỉnh An Giang - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |