vanban.org

Bản án 395/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Ngọc E.

Buộc chị chị Kim Thị Sóc Kha, anh Kim Ngọc có nghĩa vụ trả cho chị Thạch Thị Ngọc E số tiền hụi sống mà chị K, anh N còn nợ bằng 14.500.000 đồng (Trong dây hụi mở ngày 06/4/2019, loại hụi 5.000.000 đồng, hụi khui theo vụ lúa, dây hụi số 01, 02). Chị Thạch Thị Ngọc E không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Ngọc E.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2023/DSST
Ngày: 15-9-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
dân sự về góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thạch Hùng

2. Bà Huỳnh Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 759/2023/TLST–DS, ngày 25/4/2023; Về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 421/2023/QĐXXST-DS, ngày 04/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 320/2023/QĐST-DS, ngày 23/8/2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Ngọc E, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp Ô Tr, xã Hiếu Tử, huyện Ti, tỉnh Trà Vinh, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Kim Thị Sóc K, sinh năm 1972; Anh Kim N, sinh năm 1972; Cùng cư trú: Ấp Ô Tr, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, cùng vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc E trình bày:

Vào ngày 06/4/2019, chị Kim Thị Sóc K cùng chồng anh Kim N có tổ chức khui nhiều dây hụi, hình thức tham gia góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 5.000.000 đồng, hụi khui theo vụ lúa, giữa chị và chị K, anh N chỉ thỏa thuận bằng lời nói không làm văn bản. Chủ hụi có giao danh sách hụi viên cho chị theo dõi, huê hồng cho chủ đầu thảo hưởng ở mỗi lần khui là 2.500.000 đồng, hụi gồm 15 phần, chị tham gia 01 phần ở dây hụi số 01 và 01 phần ở dây hụi số 02. Hai dây hụi này khui được 04 lần đến lần khui thứ 05 thì chị K, anh N tuyên bố úp hụi không khui hụi nữa, cụ thể chị đóng hụi sống ở dây hụi số 01 từ lần khui thứ 01 đến lần khui thứ 04 là 9.700.000 đồng, ở dây hụi số 02 từ lần khui thứ 01 đến lần khui thứ 04 là 9.800.000 đồng. Tổng cộng 02 dây chị E đóng là 19.500.000 đồng. Khi bể hụi chị K, anh N có gửi trả cho chị số tiền 5.000.000 đồng, còn nợ lại 14.500.000 đồng.

Chị Thạch Thị Ngọc E yêu cầu chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N có nghĩa vụ trả cho chị số tiền hụi sống còn nợ bằng 14.500.000 đồng. Chị E không yêu cầu tính lãi và yêu cầu xét xử vắng mặt chị.

Đối với bị đơn chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các thủ tục như Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị K, anh N không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ngọc E nên không thể xác định được những tình tiết nào của vụ án mà chị K, anh N và chị Ngọc E đã thống nhất và không thống nhất. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên bị đơn đã không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc E là có căn có để chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ, về họ, hụi, biêu, phường. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N có nghĩa vụ trả tiền hụi cho chị Thạch Thị Ngọc E bằng 14.500.000 đồng, không phải trả lãi. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Bị đơn cư trú tại huyện Tiểu Cần nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

Chị Thạch Thị Ngọc E vắng mặt có đơn xin vắng mặt đúng theo quy định của pháp luật; Bị đơn chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị E, chị K, anh N.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Ngọc E, qua các tài liệu, chứng cứ mà chị Thạch Thị Ngọc E cung cấp và lời xác nhận của hụi viên tham gia góp hụi cùng chị Ngọc E như bà Thạch Ngọc Nh (Tên trong danh sách hụi là Ngọc Nh); Bà Sơn Hồng Tr (Tên trong danh sách hụi là Đ); Bà Thạch Thị Ch (Tên trong danh sách hụi là Cô Ch); Bà Kim Thị Hoa Tr (Tên trong danh sách hụi là Tư Cô Ch); Trần Thị Sa V (Tên trong danh sách hụi là Chính K) cùng xác nhận chị Thạch Thị Ngọc E có tham gia hụi do chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N làm chủ đầu thảo loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 06/4/2019, ở dây hụi số 01, 02, hụi khui theo vụ lúa là có thật.

Đối với chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N mặc dù không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện với chị Thạch Thị Ngọc E nhưng Tòa án có sao gửi các chứng cứ mà chị Thạch Thị Ngọc E đã nộp gồm: Đơn khởi kiện ngày 05/4/2023 và danh sách hụi viên ngày 06/4/2019, dây hụi số 01, 02 thể hiện chị K, anh N là chủ đầu thảo hụi trong dây hụi mà chị Thạch Thị Ngọc E khởi kiện để cho chị K, anh N có ý kiến hoặc phản hồi về những chứng cứ mà chị E đã nộp. Tuy nhiên, chị K, anh N không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của chị E về việc buộc vợ chồng chị K, anh N trả số tiền hụi sống còn nợ 14.500.000 đồng. Xét thấy, việc chị K, anh N ngưng khui hụi là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi, khi chủ hụi không khui hụi tiếp thì chủ hụi phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền hụi sống mà hụi viên đã góp hụi nên căn cứ vào Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc E là hoàn toàn có căn cứ, chị Thạch Thị Ngọc E không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc E không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 42, 91, 92, 147 và Điều 217, 227, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 27 và 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Ngọc E.

Buộc chị chị Kim Thị Sóc Kha, anh Kim Ngọc có nghĩa vụ trả cho chị Thạch Thị Ngọc E số tiền hụi sống mà chị K, anh N còn nợ bằng 14.500.000 đồng (Trong dây hụi mở ngày 06/4/2019, loại hụi 5.000.000 đồng, hụi khui theo vụ lúa, dây hụi số 01, 02). Chị Thạch Thị Ngọc E không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn chị Kim Thị Sóc K, anh Kim N phải chịu 725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Thạch Thị Ngọc E không phải chịu án phí; Hoàn trả cho chị Thạch Thị Ngọc E số tiền tạm ứng án phí 494.500 đồng tại biên lai thu tiền số 0015044, ngày 13/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ