- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 395/2019/HS-PT Ngày: 22-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn
Các thẩm phán:
Ông Đinh Quang Nghĩa
Bà Bùi Kim Rết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phan Hoàng Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét
xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 321/2019/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Tấn T do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 405/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Huỳnh Tấn T, sinh năm 1993 tại Đồng Nai; HKTT: Ấp B, xã G, huyện Đ,
tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1973 và bà Tăng Thị T1, sinh năm 1971; chưa có vợ con;
Tiền án: Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt
01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo bản án số 16/2018/HSST ngày 22/01/2018;
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt từ ngày 05/5/2019. Có mặt.
Ngoài ra còn có bị hại không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng
nghị; Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/05/2019, Huỳnh Tấn T đi bộ qua cửa hàng
mua bán xe đạp điện ở tại khu phố T, phường T1, thành phố B thì T nhìn thấy cửa hàng không có ai trông coi nên đã lén lút đi vào trong lấy trộm một chiếc xe đạp điện hiệu AZI Bike (BMX) rồi đem về nhà anh Nguyễn Đình V, sinh năm 1989, ở tổ H, Khu phố H1, phường T2, thành phố B cất giấu và ra tiệm internet “R”, địa chỉ kpT, phường T1 chơi GAME. Khi T đang chơi GAME thì bị tổ tuần tra Công an phường T1 kiểm tra hành chính nhưng do T không có giấy tờ tùy thân nên Công an mời T về phường để làm việc. Tại Công an phường, do T biết hành vi phạm tội của mình không thể trốn tránh được khỏi vòng pháp luật nên T đã đầu thú vụ việc trộm cắp xe đạp điện của anh Nguyễn Ngọc Q nên Công an phường T1 lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa xử lý theo quy định.
Vật chứng của vụ án:
- 01 một chiếc xe đạp điện hiệu AZI (BMX), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu giữ và đã trả lại cho anh Nguyễn Ngọc Q.
- 01 chiếc xe mô tô biển số 60B8-811.xx, xe mô tô trên là của anh Lê Tuấn H, sinh năm 1974, ở T12, khu phố 1, thị trấn T3, huyện T3, tỉnh Đồng Nai trình bày là bị mất ở tại huyện T3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã chuyển cho Công an huyện Trảng Bom để xử lý theo quy định.
- 01 USB lưu giữ hình ảnh hành vi trộm cắp của Huỳnh Tấn T (kèm lưu hồ sơ).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 146/TCKH-HĐĐG ngày 07/5/2019 đối với 01 một chiếc xe đạp điện hiệu AZI (BMX) có giá trị là 7.100.000 đồng (bảy triệu một trăm nghìn đồng).
- Về dân sự: anh Nguyễn Ngọc Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số: 401/CT-VKSBH-HS ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản án sơ thẩm số 405/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân
dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm h, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt Huỳnh Tấn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2019.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật
định.
Ngày 03/10/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai
kháng nghị đề nghị xét xử bị cáo Huỳnh Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng hình phạt tương xứng.
- Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Bản án Hình sự sơ thẩm số 534/2016/HSST ngày 09/9/2016 của Tòa án
nhân dân thành phố Biên Hòa, tuyên bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng khoản 1 điều 194, điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 " Miễn hình phạt cho bị cáo Huỳnh Tấn T".
Bản án Hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 21/01/2018 của Tòa án
nhân dân quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng khoản 1, điều 138, điểm g, p khoản 1 điều 46, điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 01 năm 06 tháng tù về tội "trộm cắp tài sản". Việc áp dụng tình tiết tái phạm quy định tại điểm g khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự là không chính xác, bời vì theo quy định tại khoản 1 điều 64 bộ luật hình sự năm 1999 thì Huỳnh Tấn T thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Ngày 03/5/2019, bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" là thuộc
trường hợp "tái phạm" nhưng bản án hình sự sơ thẩm số 405/2019/HSST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng tình tiết định khung "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 bộ luật hình sự là không chính xác, vi phạm nghiêm trọng việc áp dụng pháp luật nên kháng nghị phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, xử bị cáo Huỳnh Tấn T về tội "trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và phần áp dụng hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Nai làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/05/2019, tại khu phố T, phường T1, thành phố B, Huỳnh Tấn T đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Ngọc Q một chiếc xe đạp điện hiệu AZI (BMX) có giá trị tài sản là 7.100.000 đồng (bảy triệu một trăm nghìn đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 534/2016/HSST ngày 09/9/2016 của Tòa án
nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Như vậy đương nhiên bị cáo không có án tích đối với bản án trên. Bị cáo chỉ còn một tiền án theo bản án số 16/2018/HSST ngày 22/01/2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh chưa được xóa án tích nên thuộc tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là chưa phù hợp nên cần sửa bản án sơ thẩm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người
khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị
cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo đầu thú để áp điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo là phù hợp.
Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Nai, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 405/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về điều luật áp dụng và hình phạt của bị cáo.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2019.
[3] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.Biên Hòa (2); - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa; - Công an TP.Biên Hòa; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Phòng PV 27 - Công an tỉnh Đồng Nai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (Nhà tạm giữ Công an TP.Biên Hòa); - Chi cục Thi hành án dân sự TP.Biên Hòa; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Sơn |