- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Thanh Minh"
- Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 394/2026/DS-ST Ngày: 28/8/2026 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái
Các Hội thẩm Nhân dân:
1.
Ông Trần Quang Hồng
2.
Ông Trương Công Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Thư ký
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Bửu – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 513/2026/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1180/2026/QĐXX-ST ngày 12 tháng 08 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Thanh M, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: 91/19B đường Cách mạng tháng Tám, phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Hùng Phong, sinh năm 1982 (văn bản ủy quyền ngày 02/7/2026, có mặt)
Địa chỉ: 280D/91B, khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: khu vực T, phường Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Địa chỉ liên hệ: 385F39, tổ 8, khu vực H, phường An Khánh, thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Kim P, sinh ngày 01/01/1973 (văn bản ủy quyền ngày 03/7/2026, có mặt)
Địa chỉ: 280D/91B, khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11/5/2026 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 03/8/2026, nguyên đơn ông Lê Thanh M trình bày:
Năm 2022, nguyên đơn cho ông Trần Văn M vay số tiền 500.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh. Khi vay, hai bên có lập Biên nhận ngày 10/8/2022. Theo thỏa thuận, ông Trần Văn M có nghĩa vụ trả lãi hằng tháng với số tiền 20.000.000 đồng.
Đến ngày 28/4/2023, ông Trần Văn M hỏi vay thêm của nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó ông Trần Văn M cho rằng không cần sử dụng số tiền này nữa nên ngày 30/4/2023 đã chuyển trả lại cho bà Trần Hồng Cẩm số tiền 100.000.000 đồng. Do đó, số tiền này không còn liên quan đến khoản nợ đang tranh chấp và không tính lãi.
Trong quá trình thực hiện việc vay tiền, ông Trần Văn M có tiền lãi cho nguyên đơn. Tổng số tiền lãi đã nhận là 320.000.000 đồng. Việc trả lãi được thực hiện nhiều lần, tổng cộng 16 lần.
Đến tháng 4/2024, ông Trần Văn M không tiếp tục trả tiền lãi cho nguyên đơn. Sau đó, ngày 16/10/2025, ông Trần Văn M lập Biên nhận xác nhận còn nợ số tiền gốc 500.000.000 đồng và hứa sẽ trả vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết, ông Trần Văn M vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nguyên đơn nhiều lần yêu cầu ông Trần Văn M trả nợ nhưng ông Trần Văn M né tránh, không hợp tác, nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn M trả số tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật.
Nay yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn M trả tiền lãi đối với khoản tiền 500.000.000 đồng theo mức lãi suất 20%/năm, tạm tính từ ngày 10/8/2022 đến ngày 10/8/2026. Đồng thời thừa nhận số tiền lãi ông Trần Văn M đã thanh toán trước đây là 320.000.000 đồng và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Kim Phượng trình bày:
Bị đơn thống nhất trước đây, ngày 10/8/2022, ông Trần Văn M có vay của ông Lê Thanh M số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng. Ông Trần Văn M đã trả lãi cho ông Lê Thanh M đến tháng 4/2024 thì không tiếp tục trả lãi.
Bị đơn cũng thống nhất ngày 28/4/2023 ông Trần Văn M có vay thêm của ông Lê Thanh M số tiền 100.000.000 đồng và sau đó đã chuyển trả cho bà Nguyễn Hồng Cẩm, là vợ của nguyên đơn, số tiền 100.000.000 đồng. Đối với khoản tiền này, bị đơn cho rằng đã được thanh toán và không còn liên quan đến khoản nợ đang tranh chấp.
Bị đơn xác nhận ngày 16/10/2025, ông Trần Văn M có lập Biên nhận xác nhận còn nợ ông Lê Thanh M số tiền gốc 500.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn thống nhất còn nghĩa vụ trả số tiền gốc 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, đối với tiền lãi, bị đơn không thống nhất toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn mà chỉ đồng ý trả thêm số tiền 300.000.000 đồng và sẽ thanh toán một lần cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn trình bày: Trước đây ngày 10/8/2022 có cho ông Trần Văn M vay 500.000.000 đồng, lãi suất 4% mỗi tháng, đã nhận được 380.000.000 đồng tiền lãi (19 lần). Nay vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc bị đơn trả tiền gốc 500.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 10/8/2022 đến ngày xét xử là 405.000.000 đồng. Đồng ý khấu trừ số tiền lãi bị đơn đã trả là 380.000.000 đồng, nên số tiền buộc bị đơn phải trả là 525.000.000 đồng.
Đối với số tiền bị đơn chuyển cho bà Nguyễn Hồng Cẩm không liên quan đến khoản vay của nguyên đơn với bị đơn, cũng như nội dung chuyển khoản cho bà Cẩm cũng không thể hiện sự liên quan đến khoản vay 500.000.000 đồng, hơn nữa nếu bị đơn đã trả được số tiền gốc 100.000.000 đồng thì bị đơn đã không lập biên nhận xác nhận nợ ngày 16/10/2025 với số tiền gốc là 500.000.000 đồng.
Đại diện bị đơn trình bày: Thống nhất ngày 10/8/2022 có vay của nguyên đơn 500.000.000 đồng với lãi suất 4%/tháng, đã trả được 19 lần tiền lãi là 380.000.000 đồng, yêu cầu khấu trừ vào số tiền yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nay nguyên đơn đồng ý khấu trừ số tiền lãi 380.000.000 đồng đã trả, nên thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là trả gốc lãi tính đến ngày 28/8/2026 là 525.000.000 đồng.
Đối với số tiền 100.000.000 đồng bị đơn chuyển khoản cho người tên Cẩm, nếu nguyên đơn không thừa nhận thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
* Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền gốc và lãi đến ngày 28/8/2026 là 525.000.000 đồng. Giải quyết án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại gốc và lãi, đồng thời bị đơn có nơi cư trú thuộc phường Ô Môn, Tp Cần Thơ nên Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Về số tiền gốc 500.000.000 đồng
Hội đồng xét xử xét thấy, ông Lê Thanh M và ông Trần Văn M đều thống nhất ngày 10/8/2022 ông Trần Văn M có vay của ông Lê Thanh M số tiền 500.000.000 đồng. Hai bên có lập Biên nhận ngày 10/8/2022. Ông Trần Văn M đã trả tiền lãi cho ông Lê Thanh M là 380.000.000 đồng.
Đặc biệt, ngày 16/10/2025 ông Trần Văn M lập Biên nhận xác nhận còn nợ ông Lê Thanh M số tiền gốc 500.000.000 đồng và cam kết trả vào cuối năm 2025. Tại quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng xác nhận ông Trần Văn M còn nợ ông Lê Thanh M số tiền gốc 500.000.000 đồng. Nên có căn cứ buộc bị đơn trả số tiền gốc là 500.000.000 đồng
Về tiền lãi
Theo Biên nhận ngày 10/8/2022, hai bên có thỏa thuận về việc trả lãi. Bị đơn trình bày mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 4%/tháng. Tuy nhiên, mức lãi suất này cao hơn mức lãi suất 20%/năm mà pháp luật cho phép. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ có căn cứ chấp nhận mức lãi suất 20%/năm mà nguyên đơn yêu cầu.
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất số tiền lãi từ ngày 10/8/2022 đến ngày 28/8/2026 là 405.000.000 đồng, nhận thấy số tiền lãi theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định pháp luật. Nên số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 405.000.000 đồng – 380.000.000 đồng = 25.000.000 đồng.
Về thời hạn và phương thức trả tiền
Tại quá trình giải quyết vụ án, các bên không thống nhất được thời hạn và phương thức trả tiền. Vì vậy, về thời gian và cách trả sẽ được giải quyết tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về khoản tiền 100.000.000 đồng ông Trần Văn M chuyển cho bà Nguyễn Hồng Cẩm
Bị đơn cho rằng có chuyển số tiền 100.000.000 đồng cho bà Nguyễn Hồng Cẩm. Tuy nhiên, chứng cứ chuyển khoản mà bị đơn cung cấp không thể hiện nội dung thanh toán khoản nợ 500.000.000 đồng cho ông Lê Thanh M mà chỉ ghi “Tran Van Minh chuyen tien”.
Trong khi đó, ngày 16/10/2025 ông Trần Văn M vẫn lập Biên nhận xác nhận còn nợ ông Lê Thanh M 500.000.000 đồng. Tại vụ án này, cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định khoản nợ gốc đang tranh chấp là 500.000.000 đồng và không có yêu cầu giải quyết quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Hồng Cẩm.
Nếu sau này ông Trần Văn M cho rằng việc chuyển 100.000.000 đồng cho bà Nguyễn Hồng Cẩm có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ hoặc phát sinh tranh chấp khác thì ông Trần Văn M có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm
Do yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh M được chấp nhận toàn bộ nên ông Trần Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả là 525.000.000 đồng. Do đó, ông Trần Văn M phải chịu 25.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Thanh M được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 186, Điều 207; Điều 235, Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 385; Điều 401; Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh M đối với bị đơn ông Trần Văn M. Buộc ông Trần Văn M trả cho ông Lê Thanh M tính đến ngày 28/8/2026 tổng số tiền 525.000.000 đồng (Năm trăm hai mươi lăm triệu đồng), gồm tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi là 25.000.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (29/8/2026) cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Văn M còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 20%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Trần Văn M phải chịu 25.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Thanh M được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.666.000 đồng theo biên lai số 0012866 ngày 24/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
3. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 04/2026/QĐ-BPKCTT ngày 03-07-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| - Các đương sự; - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TPCT; - VKSND KV2-CT; - Cơ quan THADS TPCT; - Lưu . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đoàn Thanh Thái |