- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 394/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 4 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh;
2. Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1466/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 160/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1990;
Nơi đăng ký thường trú: Số H, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nơi ở hiện tại: Số A Tỉnh lộ 8, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Du Tô C, sinh năm 1989;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Nơi ở hiện tại: Số A Tỉnh lộ 8, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 05/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị H trình bày:
Bà và ông Du Tô C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng sau này thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã; ông C còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Bà đã khuyên ông C nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Du Tô C.
Về con chung: Bà và ông C có 01 (một) con chung tên Du Phạm Thảo Q, sinh ngày 10/11/2015. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại đơn xin ly hôn bà H yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà H xác định không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Du Tô C thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông C đều vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là bà Phạm Thị H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Du Tô C; về con chung: Bà H yêu cầu được nuôi con chung tên Du Phạm Thảo Q, sinh ngày 10/11/2015, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung bà H xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Bà Phạm Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà được ly hôn với ông Du Tô C; bà và ông C có 01 (một) con chung tên Du Phạm Thảo Q, sinh ngày 10/11/2015; bà H yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Du Tô C cư trú tại Số A Tỉnh lộ 8, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng:
Bị đơn là ông Du Tô C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Du Tô C theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phạm Thị H và ông Du Tô C tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp ngày 24/11/2014. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà H, bà và ông Du Tô C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng sau này thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã. Ngoài ra, ông C còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Bà đã khuyên ông C nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Du Tô C.
Ông Du Tô C không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho thấy ông C không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp để giải quyết vụ án. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông C đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông C là có cơ sở.
Về con chung:
Bà H và ông C có 01 (một) con chung tên Du Phạm Thảo Q, sinh ngày 10/11/2015. Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét con chung hiện do bà H nuôi dưỡng, giáo dục. Hơn nữa, tại bản tự khai ngày 03/3/2025, trẻ Du Phạm Thảo Q trình bày nguyện vọng được sống với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Du Phạm Thảo Q cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của bà H, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Nếu sau này bà H có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết trong vụ án khác.
Về tài sản chung: Bà H xác định không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có.
Ông Du Tô C vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông C có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
Về nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Phạm Thị H về việc cho ly hôn giữa bà Phạm Thị H và ông Du Tô C.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp ngày 24/11/2014 cấp ngày 24/11/2014 cho bà Phạm Thị H và ông Du Tô C không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Phạm Thị H và ông Du Tô C có 01 (một) con chung tên Du Phạm Thảo Q, sinh ngày 10/11/2015.
Giao con chung tên Du Phạm Thảo Q cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
5. Về án phí sơ thẩm:
Bà Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0063255 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Nguyễn Như Ngọc |