vanban.org

Bản án 394/2020/DSPT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 28/10/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh Lương Mộng T. Giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 16/2020/DSST ngày 29/4/2020 của T a án nh n d n huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy P. Buộc anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D liên đới trả cho anh Nguyễn Duy P số tiền hụi là 565.600.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh P yêu cầu anh T chị D trả tiền vay và hụi"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh Lương Mộng T. Giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 16/2020/DSST ngày 29/4/2020 của T a án nh n d n huyện T, tỉnh Tiền Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 148 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 394/2020/DS-PT
Ngày: 28 - 10 - 2020.
V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi,
hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.

Các Thẩm phán: - Ông Mai Hoàng Khải.

- Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền, Thư T a án nh n d n tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 355/2020/TLPT-DS ngày 01/10/2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi, hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 16/2020/DS-ST ngày 29/4/2020 của T a án nh n d n huyện T, tỉnh Tiền Giang bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 463/2020/QĐ-PT ngày 05 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy P, sinh năm 1981; (có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn:

1. Anh Lương Mộng T, sinh năm 1971; (có mặt)

2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Người kháng cáo: Bị đơn Lương Mộng T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Duy P trình bày:

- Anh P có chơi các d y hụi do anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D tổ chức cụ thể như sau:

+ D y thứ nhất hụi 3.000.000 đồng, hụi khui ngày 10/8/2017 ( m lịch) có 32 phần, anh P tham gia 02 phần, đóng được 21 phần, với số tiền là 100.800.000 đồng.

+ D y thứ hai hụi 3.000.000 đồng, hụi khui ngày 05/01/2017 ( m lịch), có 25 phần, anh P tham gia 02 phần, đã đóng được số tiền là 76.800.000 đồng.

+ D y thứ 3 hụi 3.000.000 đồng, khui ngày 10/5/2018 ( m lịch), có tổng cộng 28 phần, anh P tham gia 05 phần và đã đóng được 11 lần với số tiền là 132.000.000 đồng.

- Ngoài ra anh T có mượn anh số tiền là 2.400.000 đồng. Đến ngày 10/5/2019, anh T có làm biên nhận nợ cho anh P với số tiền là 312.000.000 đồng (gồm tiền hụi và tiền mượn)

- Anh P c n tham gia d y hụi 3.000.000 đồng do anh T và chị D tổ chức, hụi khui ngày 15/01/2017 ( m lịch), anh P tham gia tổng cộng 03 phần, đóng đến hi mãn hụi là ngày 25/5/2019 nhưng anh P và chị D hông giao hụi với số tiền là 256.000.000 đồng. Đồng thời anh T c n mượn anh P số tiền là 19.500.000 đồng. Vì vậy, ngày 30 tháng 5 năm 2019 ( m lịch) anh T có viết biên nhận nợ cho anh P với số tiền tổng cộng là 276.000.000 đồng.

- Ngày 20/01/2019 ( m lịch) anh T mượn anh P 01 lượng vàng 24 r và 02 lượng vàng 18 r hứa 02 tháng sẽ trả lại, nhưng đến nay anh T chưa trả.

Anh P yêu cầu anh T và chị D liên đới trả số tiền là 588.000.000 đồng, 01 lượng vàng 24 r và 02 lượng vàng 18 r, trả làm một lần hi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn anh Lương Mộng T trình bày:

Anh T có làm chủ hụi và tổ chức các d y hụi như anh P trình bày. Tổng cộng 04 d y hụi thì anh T c n nợ anh P số tiền hụi tổng cộng là 565.600.000 đồng. Ngoài ra anh c n mượn số tiền và vàng của anh P các lần như sau: Lần thứ nhất mượn 2.400.000 đồng; lần thứ hai 19.500.000 đồng, 01 lượng vàng 24 r, 02 lượng vàng 18 r. Số tiền và vàng này anh T mượn để trả nợ cho các hụi viên hác.

Nay anh P yêu cầu anh T và chị D liên đới trả số tiền là 588.000.000 đồng, 01 lượng vàng 24 r và 02 lượng vàng 18 r, trả làm một lần hi án có hiệu lực pháp luật, anh T đồng để cá nh n anh T trả số nợ như anh P đã trình bày.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Trước năm 2016, chị D với anh Lương Mộng T có tổ chức hụi chung nhưng từ năm 2016 và sau đó chị hông c n tham gia cùng anh T. Nay với yêu cầu hởi iện của anh P thì chị hông đồng vì các d y hụi này là do anh T tổ chức chơi riêng, chị hông biết. Đối với số tiền và vàng anh T mượn của anh P chị D có biết nhưng đó là do anh T mượn cá nh n để trả tiền nợ hụi của anh T hông liên quan gì đến chị. Nay với yêu cầu của nguyên đơn thì chị hông đồng vì đ y là nợ riêng của anh Lương Mộng T.

Tại phiên t a sơ thẩm chị D thừa nhận những d y hụi mà anh P chơi là do chị D đứng ra hui hụi (mở hụi) cho anh T, anh đi thu tiền hụi và giao cho các hụi viên như thế nào thì chị hông biết. Tiền hoa hồng từ hụi anh T chỉ cho tiền các con chị ăn học, hông đưa tiền cho chị nên chị hông biết. Vì vậy, nay với yêu cầu của anh P yêu cầu chị liên đới trả số tiền nợ 588.000.000 đồng, 01 lượng vàng 24 r và 02 lượng vàng 18 r thì chị hông đồng .

* Bản án số 16/2020/DS-ST ngày 29/4/2020 của T a án nh n d n huyện T đã căn cứ Điều 147, 235 Bộ luật Tố tụng d n sự; các Điều 463, Điều 466, 468, 471 Bộ Luật d n sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của anh Nguyễn Duy P.

Buộc anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D liên đới trả cho anh Nguyễn Duy P số tiền hụi là 565.600.000 đồng.

Buộc anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D liên đới trả cho anh Nguyễn Duy P số tiền và vàng vay là 135.900.000 đồng.

Kể từ ngày anh Nguyễn Duy P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị D và anh Lương Mộng T chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng hông được quá mức lãi suất được quy định tại hoản 1 Điều 468 của Bộ luật d n sự; nếu hông có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

* Ngoài ra bản án c n tuyên về phần án phí, quyền háng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 13/5/2020, bị đơn anh Lương Mộng T có đơn háng cáo một phần bản án sơ thẩm của T a án nh n d n huyện T, yêu cầu cho bản th n anh trả dần số tiền 701.500.000 đồng mỗi tháng 5.000.000 đồng, một năm trả 05 chỉ vàng 24 r.

Tại phiên t a phúc thẩm bị đơn anh Lương Mộng T giữ nguyên háng cáo, chấp nhận trả tiền, vàng cho nguyên đơn theo án sơ thẩm đã tuyên nhưng xin được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng, đối với vàng trả mỗi năm 05 chỉ cho đến hi hoàn tất. Nguyên đơn anh P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên quyết định tại bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Tiền Giang xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thủ tục theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát hông bổ sung gì thêm. Về nội dung, Viện kiểm sát cho rằng bị đơn thừa nhận hiện c n nợ tiền hụi, tiền vay và vàng như nguyên đơn yêu cầu. Kháng cáo của bị đơn xin trả dần, yêu cầu này hông phù hợp quy định của pháp luật, hông được nguyên đơn chấp nhận, do vậy đề nghị hông chấp nhận yêu cầu háng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a,

iến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Duy P khởi kiện yêu cầu anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D phải trả lại tiền hụi + tiền, vàng cho mượn, T a sơ thẩm thụ l giải quyết vụ án xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và vay tài sản” là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng d n sự.

Sau hi tuyên án sơ thẩm do hông đồng với kết quả, anh Lương Mộng T háng cáo. Thời gian và thủ tục được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng d n sự nên được xem xét tại cấp phúc thẩm.

Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Duy P và anh Lương Mộng T trình bày thống nhất trong năm 2017, 2018 đến năm 2019 anh P có tham gia 04 d y hụi do vợ chồng anh T làm chủ. Qua đối chiếu anh T thừa nhận c n thiếu anh P tổng cộng 565.600.000 đồng.

Cùng với khoản tiền hụi như trên anh T c n mượn của anh P 21.900.000 đồng, 01 lượng vàng 24 và 02 lượng vàng 18 . Số tiền, vàng này anh T mượn để giao hụi cho các hụi viên.

Anh Nguyễn Duy P kiện yêu cầu vợ chồng anh T, chị D trả nợ. Hai bị đơn cho rằng đ y là nợ riêng của anh T. Tuy nhiên chị D đã thừa nhận trước đ y hai vợ chồng có cùng tổ chức nhiều d y hụi, đến năm 2016 chị D chỉ hỗ trợ anh T làm hụi, chị hông có sử dụng tiền có được từ các d y hụi có anh P tham gia. Qua xác minh thực tế tại địa phương cũng như lời thừa nhận của vợ chồng anh T, thu nhập chính của gia đình anh T là lợi nhuận từ các d y hụi, trong hoạt động hụi chị D tổ chức khui hụi, anh T gom và giao tiền cho hụi viên. Án sơ thẩm buộc anh T cùng vợ là chị D trả tiền cho anh P là có cơ sở. Đối với tiền mượn mục đích để giao hụi cho các hụi viên được hốt, do đó xác định đ y cũng là nợ chung của vợ chồng anh T.

Án sơ thẩm buộc anh T, chị D liên đới trả tiền cho anh P, chị D hông háng cáo. Riêng anh T háng cáo xin trả dần số tiền hụi cũng như tiền vàng vay mượn c n thiếu. Kháng cáo của anh T hông phù hợp với quy định của pháp luật, hông được anh P chấp nhận. Án sơ thẩm buộc bị đơn trả nợ hi án có hiệu lực là có căn cứ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn bị x m phạm.

Mặt hác đối với số tài sản vay mượn gồm có tiền và vàng, nguyên đơn hông yêu cầu tính lãi suất, cấp sơ thẩm quy ra giá trị bằng tiền tại thời điểm xét xử án sơ thẩm với số tiền tổng cộng là 135.000.000 đồng, các đương sự hông ai háng cáo, tại phiên t a phúc thẩm đôi bên thống nhất, chấp nhận việc quy đổi của án sơ thẩm nên hông cần thiết phải đặt vấn đề xem xét.

Với thực tế vụ án như trên cùng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Tiền Giang, Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của anh Lương Mộng T, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm của T a án nh n d n huyện T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng d n sự;

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh Lương Mộng T. Giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 16/2020/DSST ngày 29/4/2020 của T a án nh n d n huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; các Điều 463, Điều 466, 468, 471 Bộ Luật d n sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy P.

Buộc anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D liên đới trả cho anh Nguyễn Duy P số tiền hụi là 565.600.000 đồng.

Buộc anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D liên đới trả cho anh Nguyễn Duy P số tiền và vàng vay là 135.900.000 đồng.

Kể từ ngày anh Nguyễn Duy P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị D và anh Lương Mộng T chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng hông được quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật d n sự; nếu hông có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí:

- Anh Lương Mộng T phải chịu 300.000 đồng án phí d n sự phúc thẩm, được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 49418 ngày 19/5/2020 của Chi cục thi hành án d n sự huyện T, tỉnh Tiền Giang nên đã nộp xong án phí phúc thẩm.

- Anh Lương Mộng T và chị Nguyễn Thị D phải liên đới chịu 32.060.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm.

- Hoàn lại anh Nguyễn Duy P 7.800.000 đồng tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 49313 ngày 17 tháng 01 năm 2020 và số tiền 9.515.750 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 49262 ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án d n sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ