vanban.org

Bản án 394/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 394/2018/ HSST
Ngày 18 tháng 10 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý My

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Tú;

2. Bà Nguyễn Thị Nhung.

Thư ký phiên tò a : Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên

tòa: Bà Thái Thị Hải Yến - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 371/2018/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Trần Văn S, sinh ngày 04/02/1993

HKTT: xóm B (trước đây là thôn V), xã T, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên.

Tạm trú: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: Trần Văn T, đã chết, con bà Ngô Thị N, sinh năm 1974; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình ; chưa có vợ , con. Tiền án , tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại bản án số 14/2013/HSST ngày 21/5/2013, Tòa án nhân dân huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” . Ra tra ̣i ngày 19/02/2014.

+ Tại bản án số 56/2016/HSST ngày 26/01/2016, Tòa án nhân dân quận

Hai Bà Trưng , thành phố Hà Nội tuyên Miễn trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất m a túy”. Bản án số 241/2016/HSPT ngày 08/4/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nô ̣i tuyên y án sơ th ẩm, Miễn trách nhiê ̣m hinh sự đối

̀ vớ i bi ̣ cáo Trần Văn S.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2018 đến nay, có mặt tại phiên

tòa.

*Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1959, Vắng mặt.

HKTT: Tổ K, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên

*Ngƣời làm chứng:

1. Ông Dương Văn C, sinh năm 1958, Vắng mặt.

2. Chị Dương Thị Phương CH, sinh năm 1983, Vắng mặt.

Đều HKTT: Tổ K, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên

*Ngƣời chứng kiến:

Ông Tống Đình H, sinh năm 1960, vắng mặt.

HKTT: Tổ H, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 05/7/2018, bà Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1959)

cùng chồng là ông Dương Văn C (sinh năm 1959) và con gái là chị Dương Thị Phương CH (sinh năm 1983) đang ở nhà ta ̣i tổ K, phường T, thành phố TH thì nghe có tiếng đô ̣ng ở ngoài phòng khách. Bà H, ông C và chi ̣ CH ra kiểm tra thi

̀ phát hiện 01 nam thanh niên đang dắt 01 chiếc xe mô tô nhãn hi ệu YAMAHA NOUVO, màu đen , biển kiểm soát : 20LX – 46XX từ phòng khách ra ngoài . Thấy vâ ̣y, bà H, ông C hô hào quần chúng nhân dân đuổi theo, bắt giữ được nam thanh niên trên. Nam thanh niên khai tên là Trần Văn S . Bà H đã trình báo Công an phườ ng T đến và lâ ̣p biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang đối vớ i Trần Văn S, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 06/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph

ố Thái Nguyên đã ra yêu cầu định giá tài sản đối vớ i chiếc xe mô tô trên.

Tại bản Kết luận số 183/HĐĐGTS ngày 07/7/2018 của Hội đồng định giá

tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên k ết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo , màu đen , biển kiểm soát : 20LX – 46XX, số khung: B5207Y1434XX, số máy: 2BXX – 1434XX, đã qua sử dụng, có giá trị tài sản là 5.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điề u tra, Trần Văn S khai nhâ ̣n : Bản thân nghiện ma túy từ

năm 2015, để có tiền đi mua ma túy để sử dụng , S thườ ng xuyên đi lang thang trên đi ̣a bàn thành phố TH để tr ộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 05/7/2018, S đi bô ̣ từ trung tâm thành phố TH , dọc theo đường TN đến cổng trường Đại học N , xem có ai sơ hở thì trộm cắp. Khi S đi qua nhà bà Nguyễn Thị Thu H thì thấy cửa chính đóng nhưng không khóa , quan sát xung quanh không có ai nên S dùng tay ph ải, mở một cánh cửa chính ra và đi vào trong nhà. Lúc này, S nhìn thấy tại phòng khách tầng 01 có dựng 01 (mô ̣t) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO , màu đen , biển kiểm soát : 20LX – 46XX. Tiếp tu ̣c đi quanh phòng khách thì S thấy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen tại vi ̣ tri chân cầu thang ở tầng 01, S mang chiếc chìa khóa này cắm vào

́ ổ khóa điện của chiếc xe mô tô nêu trên thì mở được. Lợi du ̣ng không có ai trong phòng, S lén lút dắt lùi xe ra cửa thì tay cầm bên phải của xe mô tô va vào cánh cửa chính phát ra tiếng động mạnh thi bi ̣ chủ nhà phát hiê ̣n , hô hoán quần

̀

chúng nhân dân bắt giữ và trình báo Công an phường Tân Lập đến giải quyết.

Tại bản cáo trạng số 376/CT-VKSTPTN ngày 31/8/2018, Viện Kiểm sát

nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Trần Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn S khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình

như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên

trình bày lời luận tội, giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử

phạt Trần Văn S từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được nhận lại tài sản và không có đề

nghị gì nên không giải quyết

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Lời nói sau cùng bị

cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn

cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 05/7/2018, tại gia đình bà Nguyễn Thi ̣ Thu H ở tổ K, phường T, thành phố TH, Trần Văn S đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu đen , biển kiểm soát : 20LX – 46XX, đã qua sử dụng, trị giá 5.000.000 đồng của bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ha thì bị bà H và quần chúng nhân dân phát hiê ̣n , bắt giữ và trinh báo Công an phườ ng Tân Lâ ̣p

, thành phố Thái

̀ Nguyên lâ ̣p biên bản b ắt ngườ i pha ̣m tô ̣i qu ả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng. Bà H đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường, đề nghị gì.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố

bị cáo Trần Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng

đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm

cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng

nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 BLHS.

Bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình

phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 BLHS.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được nhận lại tài sản và không có yêu

cầu bồi thường, đề nghị gì nên không đặt ra việc giải quyết.

[5]. Về các vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản

án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử

phạt: Trần Văn S 15 (mười lăm) tháng tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2018.

Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ

ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị

cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản và không có

yêu cầu bồi thường, đề nghị gì khác, nên không đặt ra việc giải quyết.

[3]. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

[4]. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ