- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Điều
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 392/2023/HS-PT Ngày: 22/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Công Huấn
2. Ông Ngô Đức Thụ
Thư ký Phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
Phiên tòa: Ông Trần Đức Đăng Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:
363/2023/HSPT ngày 11 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P,
do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2023/HS-PT
ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố TĐ, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng P; Giới tính: nam; Sinh ngày: 09/02/2001 tại BD; Hộ khẩu
thường trú: Số 19/13, Khu phố Tây A, phường ĐH, thành phố DA, tỉnh BD; Chỗ
ở: Số 35, đường D2, Khu phố Đông An, phường TĐH, thành phố DA, tỉnh BD;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Nguyễn Hoàng Q và bà: Huỳnh Thị Thu H;
Có vợ: Ngô Gia M, sinh năm 2001 và 01 con sinh năm: 2023; Tiền án tiền sự:
Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/12/2022 đến ngày 09/12/2022 được
thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi
nơi cư trú”; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có Bị hại không có kháng cáo, không bị kháng
cáo kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng P và chị Nguyễn Thị Mỹ L cùng tham gia phục vụ chương
trình đại nhạc hội tại quảng trường khu đô thị Vạn Phúc, Khu phố 5, phường HBP, thành phố TĐ. Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 02/12/2022, P nhìn thấy 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 Pro max của chị L đang để trên kệ hàng trong kho tại quảng trường không có ai trông coi nên nảy sinh lấy trộm điện thoại để sử dụng, P lén lút dùng tay phải cầm chiếc điện thoại lên, tắt nguồn và bỏ vào túi quần bên phải rồi tiếp tục tham gia chương trình. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày kết thúc chương trình, P cầm điện thoại trên đi về nhà, địa chỉ số 19/13, đường Tây A, phường ĐH, thành phố DA, tỉnh BD. Tại nhà, P mở chiếc điện thoại di động lên để sử dụng nhưng do máy cài mật khẩu và bị khóa Icloud nên không sử dụng được.
Ngày 04/12/2022, P cầm điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại “6789
Store”, địa chỉ số 59, đường THĐ, khu phố Tây B, phường ĐH, thành phố DA, tỉnh BD để bẻ khóa Icloud. Qua kiểm tra máy, anh Nguyễn Tấn T (chủ cửa hàng) thấy máy trong tình trạng thông báo bị mất trộm nên anh T không đồng ý mở khóa Icloud, anh T gắn sim vào chiếc điện thoại di động nên chiếc điện thoại di động đã tự báo vị trí cuối cùng cho chị L biết sau đó anh T trả máy cho P. Trên đường về, P tháo sim điện thoại và vứt dọc đường. Sau khi được chiếc điện thoại di động báo vị trí, chị L đến cửa hàng “6789 Store” và được anh T cho xem hình ảnh của P nên chị L nhận ra P là người làm chung chương trình nên đã liên lạc với P yêu cầu trả lại chiếc điện thoại di động. Ngày 05/12/2022, chị L đến Công an phường HBP trình báo sự việc đến 11 giờ 15 phút cùng ngày, P nhờ mẹ ruột là chị Huỳnh Thị Thu H mang điện thoại ra trả cho chị L sau đó Công an phường HBP đã mời chị Hà, chị L và P đến trụ sở để làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố TĐ, Nguyễn Hoàng P
đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận định giá tài sản số 461 ngày 09/12/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong Tố tụng, hình sự thành phố TĐ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max màu vàng 128GB trị giá 19.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng,
Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ L.
Trách nhiệm Dân sự: Chị Nguyễn Thị Mỹ L đã nhận lại tài sản và không
có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 116/CT-VKSNDTPTĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023
của Viện kiểm sát nhân dân Tp.Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 228/2023/HS-PT ngày 20 tháng 6 năm 2023
của Tòa án nhân dân thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ
ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày
05/12/2022 đến ngày 09/12/2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/7/2023, bị cáo Nguyễn Hoàng P có đơn
kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
* Tại Phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Hoàng P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội
dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt, đồng thời bị cáo bổ sung yêu cầu kháng cáo, xin được hưởng
án treo để có điều kiện tiếp tục học đại học vì bị cáo chỉ còn 04 tháng nữa là
tốt nghiệp.
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại Phiên
tòa, phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại Phiên tòa phúc thẩm, xét
thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 năm tù về tội “Trộm
cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định
của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại
cấp phúc thẩm xét thấy: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị
hại, nên thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, theo quy định tại
điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, hiện đang học
đại học và có 01 con còn nhỏ chưa được 01 tuổi, nên chấp nhận kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 tháng đến 06
tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357
Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị
cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,
xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng P làm trong hạn
luật định, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm. Tại Phiên tòa phúc
thẩm bị cáo Nguyễn Hoàng P bổ sung yêu cầu kháng cáo là có cơ sở, phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng P tại Phiên tòa phúc thẩm phù
hợp với lời khai của bị hại và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có
trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở xác định:
Trong khi tham gia phục vụ chương trình đại nhạc hội tại quảng trường khu
đô thị Vạn Phúc, phường HBP, thành phố TĐ, vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 02/12/2022, Nguyễn Hoàng P đã lợi dụng sơ hở của chị Nguyễn Thị Mỹ L (là người làm cùng tại chương trình) để lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 Pro max của chị L đang để trên kệ hàng trong kho tại quảng trường.
Theo Kết luận định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13
Pro max màu vàng 128GB trị giá 19.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng P
về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng P,
Hội đồng xét xử nhận thấy: Xuất phát từ động cơ tư lợi, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax có trị giá 19.000.000 đồng. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trên cơ sở đó tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P mức án 01 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hoàng P nộp bổ sung tài liệu chứng cứ
mới, qua đó thể hiện bị cáo là sinh viên đang học tại khoa Quan hệ công chúng trường Đại học Văn Lang.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Hoàng P có nhân thân tốt, phạm tội do nhất thời
không kìm chế được lòng tham, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng ổn định và hiện là sinh viên đang học Đại học, nên có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học hành, để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại Phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Điều
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng P. Sửa
bản án sơ thẩm, theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được
hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản
1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”,
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên
án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hoàng P về cho UBND Phường TĐH, Thành
phố DA, tỉnh BD, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Bị cáo Nguyễn Hoàng P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo Nguyễn Hoàng P).
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Tp.Thủ Đức, Tp.HCM; (2) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - THADS Tp.Thủ Đức, Tp.HCM; (1) - TAND Tp.Thủ Đức, Tp.HCM; (2) - Công an Tp.Thủ Đức, Tp.HCM; (2) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (4) | THẨM PHÁN Lê Công Huân |