- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:3917/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Minh Tú
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
2. Bà Bùi Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 198/2023/HNST ngày 21 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5229/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5849/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985
Địa chỉ: 2 đường C, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Đậu Khắc T1, sinh năm 1970
Địa chỉ: 2 đường C, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt, Ông Đậu Khắc T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Đậu Khắc T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng tìm hiểu thời gian khoản 02 tháng trước khi tiến tới hôn nhân. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Mỗi lần cãi nhau ông T1 luôn có lời lẽ xúc phạm bà T. Mặc dù vợ chồng vẫn đang sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đậu Hải Đ1, sinh ngày 02/9/2012 và Đậu Nguyễn Hải N, sinh ngày 08/12/2013; Hiện các con đang sống chung với vợ chồng bà T, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra, bà T không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn ông Đậu Khắc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường H, thành phố T thì bị đơn ông Đậu Khắc T1 hiện đang cư trú tại địa chỉ số B đường C, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Đậu Khắc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị T và ông Đậu Khắc T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 28/01/2011 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Đối với yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông T1:
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, hai vợ chồng cần có sự yêu thương, quan tâm, cùng nhau chia sẻ, vun đắp gia đình. Tuy nhiên, theo bà T trình bày: Trong quá trình chung sống thời gian đầu chung sống bình thường và hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó quá trình chung sống không còn hòa thuận, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã. Hai bên đã nhiều lần hàn gắn, đoàn tụ nhưng không có kết quả. Bà T xác nhận không còn tình cảm với ông T1, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1 đến Tòa để giải quyết vụ án, nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1. Điều đó chứng tỏ ông T1 không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ gia đình.
Qua đơn khởi kiện, bản tự khai của bà T, sự vắng mặt của ông T1, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu ly hôn ông T1 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: có 02 con chung tên: tên Đậu Hải Đ1, sinh ngày: 02/9/2012 và Đậu Nguyễn Hải N, sinh ngày: 08/12/2013. Bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung
Xét, nguyện vọng mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con của bà T xuất phát từ tình thương và trách nhiệm đối với con. Việc giao con cho ai nuôi là nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ nên cần xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn để quyết định giao con.
Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “ 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Qúa trình giải quyết vụ án, trẻ Đậu Nguyễn Hải N và trẻ Đậu H có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Nguyễn Thị Thanh n bố mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định việc học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho người con được phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần của hai trẻ, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận giao trẻ N, trẻ Đ1 cho bà T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng của các con và phù hợp quy định pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con do bà T có khả năng kinh tế và đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi con. Xét, sự tự định đoạt của đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, bà T không yêu cầu tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét
. Về nợ chung: bà T xác định không có, hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp.
. Về án phí hôn nhân : Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 55; 57; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đậu Khắc T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 28/01/2011 của Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Đậu Khắc T1 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao trẻ Đậu Hải Đ1, sinh ngày 02/9/2012 và Đậu Nguyễn Hải N, sinh ngày: 08/12/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Đậu Khắc T1 cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét
- Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm; nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008033 ngày 14/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời 30 ngày, kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; - CC Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức; - UBND xã Phước Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. Đậu Khắc Tuyên cấp dưỡng nuôi con. ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con. - Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét - Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. 2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: nhân sơ thẩm; nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008033 ngày 14/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời 30 ngày, kể từ ngày tuyên án. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 15 phút, ngày 26/9/2023 Hội đồng xét xử với thành phần gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Minh Tú Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Phụng 2. Ông Huỳnh Tiến Dũng Nghị án về vụ “Ly hôn” thụ lý số 198/2023/HNST ngày 21/02/2023. trình bày của những người tham gia tố tụng. với tỷ lệ 3/3 những vấn đề sau : Áp dụng: Điều 39; Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; 2014); Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Đậu Khắc Tuyên. Phước Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh và ông Đậu Khắc Tuyên không còn giá trị pháp lý. Nguyễn Hải Nguyên, sinh ngày: 08/12/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh đươc trực tiếp nuôi dưỡng. Đậu Khắc Tuyên cấp dưỡng nuôi con. ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con. - Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét - Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. 2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: nhân sơ thẩm; nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008033 ngày 14/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời 30 ngày, kể từ ngày tuyên án. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. viên Hội đồng xét xử đã đọc lại biên bản và ghi nhận đúng nội dung đã quyết định. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Minh Tú Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh không yêu cầu ông Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở Bà Nguyễn Thị Thanh phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc Tại phòng nghị án Toà án nhân Thành phố Thủ Đức- TP . Hồ Chí Minh. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến Kết quả việc hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất biểu quyết - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Căn cứ vào các Điều 55; 57; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116 và Điều 117 Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, (đã được sửa đổi bổ sung năm Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh: - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thanh được ly hôn với ông Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 28/01/2011 của Ủy ban nhân dân xã - Về con chung: Giao trẻ Đậu Hải Đăng, sinh ngày 02/9/2012 và Đậu Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh không yêu cầu ông Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở Bà Nguyễn Thị Thanh phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Biên bản nghị án kết thúc lúc 09 giờ 15 phút ngày 26/9/2023. Các thành CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Minh Tú |