vanban.org

Bản án 391/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 391/2024/HS-ST
Ngày: 16-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Xuân Lang

2. Ông Nguyễn Thành Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 561/2024/HSST

ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

4189/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với:

- Bị cáo:

Nguyễn Thị N; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1974 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng

ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Nhà

không số, Tổ A, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt

Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Thợ may; Con ông

Nguyễn H (chết) và con bà Trần Thị H1; Hoàn cảnh gia đình: bị cáo có chồng là

Nguyễn Phước T (chết, là bị hại trong vụ án) và có 02 người con (con lớn sinh

năm sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2022 (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Phạm Thị Bạch T1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, làm việc tại

Công ty L (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1975 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại gồm có:

+ Chị Nguyễn Thị Hạ V, sinh năm 2001 (con ruột của bị hại) vừa là người

đại diện hợp pháp cho bị hại, vừa là người giám hộ đương nhiên cho em ruột là cháu Nguyễn Phước T2, sinh năm 2008 (con ruột của bị hại);

Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình

Phước; Chỗ ở: Nhà không số, Tổ A, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa);

+ Ông Nguyễn Phước T3, sinh năm 1946 (cha của bị hại),

+ Bà Trần Thị M, sinh năm 1950 (mẹ của bị hại),

Ông T3 và bà M cùng đăng ký thường trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh

Quảng Nam (ông T3 và bà M vắng măt tại phiên tòa).

Người đại diện theo ủy quyền cho ông T3 và bà M là ông Nguyễn Phước

T4, sinh năm 1986; đăng ký thường trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ông T4 cũng vắng mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1977; trú tại: Nhà không số, Tổ A, Ấp B, xã

V, Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa);

+ Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1973; trú tại: Nhà không số, Tổ A, Ấp B,

xã V, Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Phước T kết hôn vào năm 1998. Ông T làm

nghề phụ hồ, bình thường rất hiền lành, nhưng buổi tối đi làm về hay nhậu và say xỉn, khi say ông T thay đổi tính nết, trở thành một con người khác, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và đánh nhau với N.

Vào tối ngày 26/6/2022, ông T lại đi nhậu về nên hai vợ chồng xảy ra mâu

thuẫn, ông T đập vỡ ly, chửi N, rồi ông T đi ra ngoài và nằm ngủ ở tầng trệt. Đến 06 giờ ngày hôm sau (ngày 27/6/2022), N đang đứng gần bàn máy may (đặt bên ngoài cửa phòng khách), yêu cầu ông T dọn dẹp các mảnh vỡ thủy tinh do ông T say xỉn đập vỡ ly vào tối hôm trước nhưng ông T không đồng ý mà còn chửi N. Do đó, hai bên tiếp tục cãi nhau, ông T lao vào dọa đánh N nên hai bên giằng co, vì tức giận, N cầm lấy 01 cây kéo cắt vải bằng kim loại, dài 28,5cm, mũi nhọn, cán quấn vải bằng tay phải đâm một nhát vào cổ bên trái của ông T. Lúc này, N liền ôm ông T và la lớn thì cháu Nguyễn Thị Hạ V và cháu Nguyễn Phước T2 (là con của N và ông T) đang ngủ ở trên lầu, chạy xuống nhìn thấy ông T từ từ ngã xuống và sau đó ông T chết tại chỗ.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, Nguyễn Thị N đến Công an xã

V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đầu thú, khai nhận đã dùng cây kéo gây ra

cái chết cho chồng là ông Nguyễn Phước T tại nhà riêng, địa chỉ nhà không số,

Tổ A, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh ra

Quyết định tạm giữ đối với Nguyễn Thị N, đồng thời chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm

quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn

Thị N thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1135/TT.22 ngày 27/7/2022

của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

- Các kết quả chính khi khám nghiệm: Vết thương thủng đứt da tại vùng cổ

trái gây đứt rời động mạch cảnh chung trái và xuyên thủng khí quản. Chiều hướng

vết thương đi từ trên xuống từ trái qua phải, từ sau ra trước; khí phế quản có máu

đông và không đông; các tạng khác không tổn thương dập vỡ.

- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: Đứt thủng da; đứt thủng khí quản; đứt

thủng động mạch; tổn thương cơ tim cấp dạng tăng co; tràn máu phế quản, phế

nang.

- Kết quả xét nghiệm độc chất: Không phát hiện.

* Nguyên nhân chết: Suy hô hấp, tuần hoàn cấp do vết thương vùng cổ trái

gây đứt động mạch cảnh chung trái và thủng khí quản.

* Kết luận khác: Vết thương do vật sắc nhọn gây ra; chiếc kéo Cơ quan

CSĐT cung cấp qua hình ảnh có thể gây ra được thương tích dẫn đến tử vong cho

nạn nhân (bút lục 94-100).

Tại Kết luận giám định số 4526-22/KL-KTHS ngày 09/9/2022 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định nhóm máu

trên vật chứng thu giữ: Nhóm máu Nguyễn Phước T thuộc nhóm máu A; dấu vết

tại hiện trường cần giám định là máu người, thuộc nhóm máu A cùng nhóm máu

Nguyễn Phước T; cái kéo có dính máu người, nhóm máu A cùng nhóm máu

Nguyễn Phước T (bút lục 105, 106).

Ngày 13/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố đã trưng

cầu Trung tâm pháp y Giám định bổ sung giải thích pháp y đối với cơ chế hình

thành vết thương trên người nạn nhân Nguyễn Phước T. Tại Bản kết luận giám

định pháp y về tử thi số 1135B/TT.22 ngày 23/9/2022 của Trung tâm pháp y - Sở

Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Các vết xây xát da trên người nạn nhân Nguyễn Phước T do tác động bởi

vật tày có cạnh, vật sắc, sắc nhọn hay ngược lại. Các vết xây xát da không gây ra các chết cho nạn nhân.

- Với hành vi ném cây kéo của Nguyễn Thị N không gây ra được vết thương

vùng cổ trái.

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 1135.KLVGTT-TTPY.2022

ngày 27/9/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Các vết sây sát da tại hõm ức và mặt sau ngoài cổ tay trái: Cơ chế hình

thành vết thương đã được đề cập trong Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1135B/TT.22 ngày 23/9/2022; có nhiều chiều hướng khác nhau; không có cơ sở xác định lực tác động; không gây nguy hiểm tính mạng; phần tày của cây kéo có thể gây ra được các thương tích trên.

- Vết thương đứt da tại vùng cổ trái: do vật sắc nhọn gây ra; chiều hướng vết

thương đã được đề cập trong Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1135.TT.22 ngày 27/7/2022; không có cơ sở xác định lực tác động; hai lưỡi kéo ở trạng thái khép có thể gây ra được; hành vi của Nguyễn Thị N khó có khả năng gây ra được vết thương này.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1135.C/TT.22-24 ngày

31/01/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: hành vi dùng kéo đâm mới gây ra được vết thương vùng cổ trái có chiều hướng vết thương đi từ trên xuống, từ trái qua phải, từ sau ra trước, phù hợp làm nạn nhân tử vong.

Tại Cáo trạng số 565/CT-VKS-P2 ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Thị N về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận: do bị hại Nguyễn Phước T hay nhậu say,

chửi đánh bị cáo và đập phá đồ đạc trong một thời gian dài đã gây ra mâu thuẫn giữa vợ chồng. Vào tối ngày 26/6/2022, ông T đi nhậu về nên hai vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn, đến 06 giờ ngày hôm sau, bị cáo yêu cầu ông T dọn dẹp các mảnh vỡ thủy tinh nhưng ông T không đồng ý mà còn chửi bị cáo, nên hai bên tiếp tục cãi nhau, vì tức giận, bị cáo đã cầm lấy 01 cây kéo cắt vải đâm một nhát vào cổ bên trái của ông T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công

tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ

của bị cáo Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức hình phạt từ 08 năm đến

10 năm tù về tội “Giết người”. Về trách nhiệm dân sự, đại diện hợp pháp của bị

hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm

sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giải quyết, xử lý vật chứng theo

quy định của pháp luật.

- Luật sư Phạm Thị Bạch T1 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo

Nguyễn Thị N:

Luật sư thống nhất với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cho rằng mức án đề nghị là quá nặng so với

hành vi phạm tội của bị cáo vì từ năm 2021, bị cáo N đã phải luôn chịu đựng và

kìm nén cảm xúc do bị hại thường xuyên say xỉn, chửi bới, đập phá đồ đạc trong

nhà; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau

khi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú; về phía đại diện của bị hại

cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ đó, Luật sư đề nghị Hội đồng

xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ hơn mức án mà Đại diện Viện kiểm

sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tại phiên toà.

- Bị cáo Nguyễn Thị N trình bày: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị

cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về

chăm lo cho các con.

- Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội vì cho rằng mức án đề nghị là đã

xem xét toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do bị cáo gây ra và

các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Về phía Luật sư cũng bảo lưu quan điểm bào

chữa.

- Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày ý kiến: xin giảm nhẹ hình phạt cho

bị cáo và xin cho bị cáo mức án nhẹ hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị N xin lỗi các con, xin lỗi cha mẹ

của bị hại và mong Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ để sớm trở về chăm

lo cho các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công

an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy

định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

luật sư bào chữa đã thực đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Qua lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa ngày 03/5/2024 và phiên tòa

hộm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với các kết luận giám định, thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận:

Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Phước T kết hôn vào năm 1998. Ông T

làm nghề phụ hồ, bình thường rất hiền lành, nhưng buổi tối đi làm về hay nhậu và say xỉn, khi say ông T thay đổi tính nết, trở thành một con người khác, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và đánh nhau với N.

Vào tối ngày 26/6/2022, ông T đi nhậu về nên hai vợ chồng xảy ra mâu

thuẫn, ông T đập vỡ ly, chửi N, rồi ông T đi ra ngoài và nằm ngủ ở tầng trệt. Đến 06 giờ ngày hôm sau (ngày 27/6/2022), N đang đứng gần bàn máy may (đặt bên ngoài cửa phòng khách), yêu cầu ông T dọn dẹp các mảnh vỡ thủy tinh do ông T say xỉn đập vỡ ly vào tối hôm trước nhưng ông T không đồng ý mà còn chửi N. Do đó, hai bên tiếp tục cãi nhau, ông T lao vào dọa đánh N nên hai bên giằng co, vì tức giận, N cầm lấy 01 cây kéo cắt vải bằng kim loại, dài 28,5cm, mũi nhọn, cán quấn vải bằng tay phải đâm một nhát vào cổ bên trái của ông T. Lúc này, N liền ôm ông T và la lớn thì cháu Nguyễn Thị Hạ V và cháu Nguyễn Phước T2 (là con chung của N và ông T) đang ngủ ở trên lầu, chạy xuống nhìn thấy ông T từ từ ngã xuống và sau đó ông T chết tại chỗ.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, Nguyễn Thị N đến Công

an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đầu thú.

Với các hành vi nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị N

phạm tội “Giết người”, theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của

con người, được pháp luật bảo vệ. Hành vi này đã gây mất trật tự, trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Nhưng khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử còn xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết

giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã đi đầu thú tại cơ quan Công an; đại

diện bị hại là 02 con ruột cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hiện 01 con bị cáo còn đang tuổi đi học, nên cũng cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết này là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội.

Với hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh

và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có

thời hạn nằm trong khung hình phạt mới đảm bảo tính giáo dục, đủ sức răn đe và

phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, đại diện hợp

pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt nên Toà án không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 cây kéo bằng kim loại, dài

khoảng 28,5cm; 01 bộ áo quần của N có dính máu; các mảnh vỡ thủy tinh: là tang

vật của vụ án nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề

nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và chấp nhận

một phần lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên toà.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng

cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ

luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời

hạn tù tính từ ngày 27/6/2022.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm

2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm

2021;

Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 (một) cây kéo kim loại dài 28,5cm; 01 (một) bộ

áo quần của bà N có dính máu; Các mảnh vỡ thủy tinh.

(Các tang vật nêu trên được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang tài vật số

NK2024/104 ngày 20/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí

Minh)

3. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc

hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn

đồng).

4. Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ

sung năm 2021;

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo

bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản

án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ