- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái Minh T đồng phạm - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 390/2026/HS-PT Ngày 19 tháng 6 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Ngô Mạnh Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Loan - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Chiến - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 179/2026/TLPT-HS ngày 19 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 do các bị cáo kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thái Minh T, sinh ngày 04/11/2004, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn Nam Chính 10, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí Toàn và bà Thái Thị Hạnh; Tiền án, nhân thân: Không; Tiền sự: Ngày 26/7/2024, bị Công an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (cũ), phạt hành chính 4.000.000 đồng, về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, hiện chưa nộp phạt; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 18/4/2025, hiện giam tại Trại tạm giam số 03 Công an tỉnh Lâm Đồng; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
2. Đinh Mạnh T1, sinh ngày 06/8/2005, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn Nam Chính 08, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Trọng Ân và bà Võ Thị Thuận; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 18/4/2025, hiện giam tại Trại tạm giam số 03 Công an tỉnh Lâm Đồng; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
Người bào chữa cho 02 bị cáo: Luật sư Nguyễn Hồ Hải Vân, Văn phòng luật sư Hồ Nam thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận (Nay là tỉnh Lâm Đồng) – Có mặt;
Ngoài ra còn có 01 người bị hại và 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 14/4/2025, Đinh Mạnh T1 cùng Nguyễn Thái Minh T, Nguyễn Thành S, Lương Trọng K, Nguyễn Quốc V, cùng trú xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng) và một số người bạn tổ chức nhậu trước sân vận động xã Nam Chính. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, trong lúc cả nhóm đang ngồi nhậu thì Phạm H điều khiển xe mô tô chở theo Võ Quốc A cầm trên tay 01 khẩu súng bắn bi màu đen, trên thân súng có gắn đèn laze chạy ngang qua chỗ nhóm T đang ngồi nhậu theo hướng từ thị trấn Đức Tài về thị trấn Võ Xu. Khi đi ngang qua khu vực nhóm T đang nhậu thì A bật đèn laze chĩa trúng vào nhóm. Sợ bị bắn, nhóm T đứng dậy bỏ chạy. Lúc này, T nói với cả nhóm là trước đó T đánh nhau với H nên rủ T1 rượt theo để đánh H thì T1 đồng ý. T1 lấy xe môtô biển số 59P1-52024 của T chạy một mình về nhà, cách vị trí ngồi nhậu khoảng 50 mét, lấy 02 cây rựa rồi quay lại vị trí ngồi nhậu, T1 đưa 02 cây rựa cho T cầm rồi điều khiển xe môtô chở T rượt theo H và A. Khi đến ngã tư đèn xanh đỏ trên đường Cách Mạng Tháng Tám thuộc khu phố 5, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh thì cả hai đuổi kịp H và A. T1 điều khiển xe môtô áp sát bên hông trái xe môtô của H và A để T ngồi sau cầm hai cây rựa chém trúng vào lưng H 01 cái làm H đang điều khiển xe bị mất lái, va quẹt vào 01 xe ôtô đang đỗ bên đường, xe H không bị ngã mà tiếp tục chạy về phía trước. T1 điều khiển xe môtô chở T áp sát để T chém H. Thấy vậy, A ngồi phía sau cầm cây súng trên tay đánh vào hai cây rựa T đang cầm để ngăn cản làm hai cây rựa rơi xuống đường. T1 tiếp tục điều khiển xe môtô rượt theo khoảng 30 mét nữa thì đâm va vào xe của H làm hai xe ngã xuống đường. Lúc này, T1, H xông vào dùng tay đánh nhau. Còn T chạy bộ ngược về vị trí rơi 02 cây rựa để nhặt. T1 quay qua ôm được cổ H và siết cổ H từ phía sau. A xông vào đánh T1 để kéo H ra nhưng không được. T1 ôm vật H xuống đường thì lúc này T cầm 01 cây rựa chạy đến. Thấy vậy, A bỏ chạy về phía sau. Trong lúc T1 ôm cổ H khóa từ phía sau nằm dưới lề đường thì T cầm rựa chém liên tiếp khoảng 03 nhát, trong đó có 01 nhát trúng vào đầu gối chân trái của H, 01 nhát trúng vào tay, 01 nhát trúng xuống mặt đường làm cây rựa bị gãy một phần lưỡi. T1 tiếp tục ôm cổ H khóa từ phía sau. T cầm cây rựa bị gãy một phần lưỡi chạy ngược lại vị trí rơi cây rựa còn lại để tiếp tục lấy cây rựa. Trong lúc T bỏ đi lấy cây rựa còn lại, T1 đang ôm cổ H khóa từ sau vật ngã xuống đường thì A xông vào dùng chân đạp trúng mặt T1 để T1 buông H ra. Tuy nhiên, T1 không buông ra mà tiếp tục siết chặt cổ của H, H có la lên nhưng T1 vẫn không buông ra. Lúc này, T nhặt 01 cây rựa còn lại chạy đến chỗ T1 và H. T cầm theo 01 cây rựa bị gãy một phần lưỡi và 01 cây rựa còn nguyên chạy đến. Thấy vậy, bung chạy. T1 đang ôm siết cổ H từ phía sau và bảo đưa cho T1 01 cây rựa. đưa cho T1 01 cây rựa bị gãy một phần lưỡi trước đó, còn T cầm cây rựa còn nguyên. T1 buông cổ H ra rồi cầm rựa cùng với T cầm rựa chém liên tiếp nhiều nhát vào người H. T chém khoảng 2 - 3 nhát trúng vào người H. T1 cầm cây rựa đã bị gãy một phần lưỡi chém liên tục vào người H, trong đó nhát đầu tiên trúng vào tay, 01 nhát trúng vào đầu nhưng lúc đó H đang đội mũ bảo hiểm, tiếp tục chém 01 nhát trúng vào mặt H làm H ngã ngửa ra đường và có biểu hiện co giật. T1 tiếp tục chém khoảng 02 nhát vào mặt H, 02 nhát trúng vào vùng ngực làm cho H nằm ngửa bất động dưới lề đường. Sau khi chém xong, T1 cùng với T bỏ đi. T điều khiển xe môtô chở T1 cầm 02 cây rựa về lại xã Nam Chính. Khi đi được khoảng 300 mét thì T1 vứt cây rựa bị gãy một phần lưỡi bên đường và chạy đến khu vực Đài liệt sĩ Võ Xu thì T1 tiếp tục vứt cây rựa thứ hai ở lề đường, rồi cả hai chạy vào khu vực nghĩa địa ở thị trấn Đức Tài. Lúc này, T1 gọi điện cho Nguyễn Quốc V nhờ V vào lấy quần áo ở nhà mang ra nghĩa địa Đức Tài; T gọi điện cho Trương Sơn T2 nhờ T2 vào nghĩa địa Đức Tài lấy xe môtô của T mang về nhà Nguyễn Xuân L cất hộ. Một lúc sau, Trương Sơn T2 chở theo Nguyễn Lê Quốc B đến nghĩa địa Đức Tài lấy xe của T đưa về nhà L cất; Nguyễn Quốc V mang quần áo tới cho T1 rồi đi về. T1 và T bàn bạc với nhau về việc bỏ trốn. Lúc này, T nhắn tin cho S mượn số tiền 200.000 đồng; S nói K chuyển thêm cho T 100.000 đồng để trả tiền nhậu khi tối. Khoảng 03 giờ ngày 15/4/2025, T1 và T đi xe Taxi đến nhà nghỉ Nguyễn Kim thuộc xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để thuê phòng trốn. Vào chiều ngày 16/4/2025, T1 và T đến tiệm nét gần đó để chơi game thì bị Công an phát hiện đưa về trụ sở làm việc và đã khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc như trên.
Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường hồi 22 giờ 00 ngày 14/4/2025 và thực nghiệm điều tra vào ngày 26/6/2025.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 268/KLTTCT-YKPYBT ngày 18/4/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Bình Thuận kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm H là 20%; Không đủ cơ sở xác định nếu không được cấp cứu kịp thời thì các vết thương trên có thể gây tử vong hay không.
Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 407/KLTTCT-YKPYBT ngày 14/7/2025 của Trung tâm Y khoa - Pháp y Bình Thuận kết luận các thương tích của Phạm H:
- Chấn thương sưng nề bầm tím vùng mặt mắt phải, gãy thành ngoài hốc mắt phải, gãy xương gò má phải, gãy xoang hàm phải hiện ổn định. Do vật tày tác động theo chiều hướng từ trước ra sau với lực tác động trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 5% + 8% + 7%.
- Vết thương - chấn thương vùng mũi, gãy xương chính mũi, vẹo vách ngăn hai bên đã được phẫu thuật điều trị hiện ổn định. Do vật tày tác động theo chiều hướng từ trước ra sau với lực tác động trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 7%.
- Vết thương - chấn thương vùng gối trái, gãy hở xương bánh chè trái đã được phẫu thuật điều trị hiện gối trái gấp duỗi bình thường. Do vật sắc tác động trực tiếp gây ra với lực tác động trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 4%.
- Hiện không thấy gãy block xương ổ răng 16 - 17 trên phim CT-Scanner sọ - mặt. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phạm H tại thời điểm giám định là 42%; Không đủ cơ sở xác định nếu không được cấp cứu kịp thời thì các vết thương trên có thể gây tử vong hay không.
Tại Bản kết luận giám định số 172/KL-KTHS ngày 22/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
- 02 cây rựa mà Tuấn và Trường sử dụng là dao sắc, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an;
- Khẩu súng và 11 (mười một) viên đạn bi không phải là vũ khí quân dụng, không thuộc danh mục vũ khí.
Vật chứng:
- 01 miếng kim loại có kích thước (0,2 x 0,04)m, dày 0,5 cm; 01 khẩu súng màu đen có kích thước (0,7 x 0,22 x 0,04)m; 01 báng súng bằng nhựa có kích thước (0,27 x 0,16 x 0,03)m trên thân súng có gắn đèn laze; 11 viên đạn bi hình tròn đường kính 0,6 cm; 01 cây rựa dài 137cm, cán bằng gỗ tròn, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 13,5cm, mũi rựa bị gãy; 01 cây rựa dài 160cm, cán bằng tre tròn, lưỡi bằng kim loại màu đen. Vật chứng trên được lưu giữ tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Xe môtô biển số 59P1- 52024, T1 sử dụng chở T là xe thuộc sở hữu của bà Thái Thị H1 (là mẹ của bị cáo T); T tự ý lấy xe đi đánh nhau bà H1 không biết. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà H1.
Về dân sự: Ông Phạm H yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng chi phí là 222.348.000 đồng. Gia đình của mỗi bị cáo Nguyễn Thái Minh T, Đinh Mạnh T1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 45.000.000 đồng/bị cáo.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSLĐ-P2, ngày 29/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Thái Minh T và Đinh Mạnh T1 về tội “Giết người” tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 50; khoản 1 Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 phạm hai tội “Giết người” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Minh T 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2025.
Xử phạt bị cáo Đinh Mạnh T1 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2025.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường, về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, về nghĩa vụ thi hành án, về trách nhiệm do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 14/02/2026, bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 kháng cáo, đều là xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 đều khai nhận có thực hiện các hành vi như Bản án sơ thẩm đã xử là không oan, nhưng hình phạt quá nặng nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về phụ giúp gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.
Luật sư bào chữa cho 02 bị cáo hoàn toàn thống nhất về tội danh, chỉ đề nghị xem xét về hình phạt vì ngay từ ban đầu của quá trình điều tra cho đến nay, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại, người bị hại đã bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo, sức khỏe của người bị hại hiện nay cũng đã ổn định, các bị cáo đang tuổi lao động, bị cáo T1 phạm tội lần đầu, quá trình nhân thân tốt. Do đó đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về phụ giúp gia đình và hòa nhập xã hội, trở thành người có ích.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ. Về nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 phạm tội “Giết người” và phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đã xử phạt các bị cáo mức phạt tù tương xứng. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 đều đảm bảo hình thức và thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống, Kết luận giám định hung khí, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Cho rằng trước đây đã bị Phạm H đánh nên vào khoảng 19 giờ, ngày 14/4/2025, Đinh Mạnh T1 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thái Minh T mang theo 02 dao rựa sắc đuổi theo xe mô tô do Phạm H điều khiển chở Võ Quốc A để T dùng rựa chém trúng lưng H và tiếp tục đuổi theo đâm va làm hai xe ngã xuống đường rồi T, T1 dùng rựa chém nhiều nhát vào mặt, lưng, ngực, chân của H. Hậu quả gây thương tích cho H tỷ lệ 42%. Việc các bị cáo dùng dao rựa sắc, thuộc danh mục có tính sát thương cao chém vào nhiều vùng trọng yếu trên cơ thể người bị hại cho đến khi bị hại nằm bất động thì mới bỏ đi, người bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của các bị cáo nên Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 phạm tội “Giết người” và phạm tội“Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đe dọa xâm phạm đến tính mạng của con người, xâm phạm đến trật tự, an ninh, an toàn xã hội nên các bị cáo phải chịu hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Thái Minh T có quá trình nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” chưa chấp hành hình phạt lại phạm tội với tính chất, mức độ nguy hiểm hơn. Bị cáo là người khởi xướng, rủ rê bị cáo T1 thực hiện tội phạm. Bản án sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, phạm tội chưa đạt nên đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Minh T 11 năm tù về tội “Giết người” và 01 năm tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” đều ở mức thấp của khung hình phạt được áp dụng là tương xứng. Các tình tiết bị cáo trình bày tại phiên toà phúc thẩm không được xem là tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bản án sơ thẩm đã xem xét bị cáo Đinh Mạnh T1 phạm tội chưa đạt, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có quá trình nhân thân tốt nên đã xử phạt bị cáo 10 năm 06 tháng tù về tội “Giết người” và 01 năm tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, thấp hơn hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thái Minh T là phù hợp với vai trò của bị cáo trong vụ án. Tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Từ các phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và lời bào chữa của luật sư, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo đề nghị của Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường, về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, về nghĩa vụ thi hành án, về trách nhiệm do chậm thi hành án không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 50; khoản 1 Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Minh T và bị cáo Đinh Mạnh T1 phạm tội “Giết người” và phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Minh T 11 (Mười một) năm tù về tội “Giết người” và 01 (Một) năm tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo Nguyễn Thái Minh T phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2.2. Xử phạt bị cáo Đinh Mạnh T1 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người” và 01 (Một) năm tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo Đinh Mạnh T1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Mỗi bị cáo Nguyễn Thái Minh và Đinh Mạnh T1 đều phải nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng)/bị cáo.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường, về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, về nghĩa vụ thi hành án, về trách nhiệm do chậm thi hành án không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Công tố và KSXXPT tại TP.HCM; - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng; - Các bị cáo (Trại tạm giam tống đạt); - Lưu: HS, VP (TPQ-17b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Công |