vanban.org

Bản án 390/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trương Hòa B.

Về con chung: Giao cháu Trương Hà V, sinh ngày 18/3/2017, cho Trương Hòa B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh B vắng mặt không yêu cầu, nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trương Hòa B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 390/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 7 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bửu Khánh

Bà Nguyễn Thị Cẩm B

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997 (có mặt).

ĐKTT: Ấp HM, xã HH, huyện GR, tỉnh KG

Tạm trú: Ấp BB, xã HH, huyện GR, tỉnh KG

- Bị đơn: Anh Trương Hòa B, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp HM, xã HH, huyện GR, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/6/2022 và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị Th và anh B tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang vào ngày 17/10/2016. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn dần dần không còn tình cảm, hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không phù hợp tính tình, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Nay chị Th xét thấy hôn nhân không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Hòa B.

Về con chung: Chị Th xác định có 01 người con chung Trương Hà V, sinh ngày 18/3/2017, thời gian ly thân con sống chung với anh B, nay con có nguyện vọng sống với anh B nên chị tiếp tục giao con chung cho anh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trương Hòa B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh B không có văn bản phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt.

Tòa án đã triệu tập anh Trương Hòa B đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh B vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trương Hòa B.

Về con chung chị Th xác định có 01 người con chung Trương Hà V, sinh ngày 18/3/2017, chị Th xác định con do anh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao con cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng, nên giao con cho anh B nuôi dưỡng, chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con do anh B vắng mặt không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị miễn xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; buộc chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Trương Hòa B với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại Hòa Mỹ, xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Đối với bị đơn trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng. Căn cứ quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th với anh Trương Hòa là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, theo thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nguyên nhân, dẫn đến ly hôn chị Th cho rằng giữa chị và anh B thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình cũng như trong việc làm ăn. Cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm nên đã ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh B, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn. Đối với anh B Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng và triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng anh B không có mặt và không có ý kiến phản hồi việc ly hôn của chị Th. Hội đồng xét xử nhận thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chị Th không còn tình cảm vợ chồng với anh B và cả hai đã sông ly thân. Đồng thời, theo xác minh tại địa phương nơi đăng ký kết hôn xác định chị Th, anh B hiện không còn sống chung. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Th và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của ly hôn của chị Th đối với anh B.

. Về con chung: Chị Th xác định chị và anh B có với nhau 01 người con chung Trương Hà V, sinh ngày 18/3/2017, trong quá trình sống ly thân con sống cùng với anh B và cháu có nguyện vọng được ở với anh B, nên chị tiếp tục giao con chung cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định của Luật hôn nhân và đình vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng anh B đều vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ hay ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Để giữ ổn định và đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con và theo ý kiến của chị Th nghị nên tiếp tục giao con chung cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh B vắng mặt không có yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Trương Hòa B.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Hà V, sinh ngày 18/3/2017, cho Trương Hòa B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh B vắng mặt không yêu cầu, nên không xem xét.

Chị Nguyễn Thị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003434 ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Th có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Trương Hòa B vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.

Cỡ chữ