vanban.org

Bản án 390/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S. Buộc bà N trả cho Ngân hàng S số tiền:

Vốn là 66.109.523 đồng (Sáu mươi sáu triệu một trăm lẻ chín nghìn năm trăm hai mươi ba đồng) Lãi trong hạn là: 8.048.863 đồng (Tám triệu không trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S khởi kiện bà N đòi tiền vay (thẻ tín dụng)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S. Buộc bà N trả cho Ngân hàng S số tiền:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 390/2019/DS-ST
Ngày: 06/11/2019
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phương Khanh

2. Ông Võ Văn Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thủy Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 321/2019/TLST - DS ngày 31 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2019/QĐXXST - DS ngày 01 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Trụ sở: 266-268 đường N, phường M, quận P, TP. Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: Bà D – Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông G – Giám đốc chi nhánh Tiền Giang

Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Q – Trưởng phòng giao dịch Chợ Gạo

2. Bị đơn: Bà N, sinh năm 1958; Địa chỉ: ấp L, xã B, huyện X, Tiền Giang

Bà Q có mặt, bà N vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Ngân hàng S và quá trình giải quyết vụ án bà Q là người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 23/02/2017, bà N và Ngân hàng S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (thẻ tín dụng quốc tế Motor Card) và bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng với hạn mức là 65.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng Motor Card với số tài khoản 37.967.39583, bà N đã thực hiện các giao dịch với số tiền là 262.980.460 đồng, tiền lãi là 24.505.262 đồng, tiền phí là 5.495.664 đồng. Tính đến ngày 31/5/2019 bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng là 218.823.000 đồng (trong đó vốn là 196.870.937 đồng, tiền lãi và phí là 21.952.063 đồng). Qua nhiều lần làm việc và nhắc nhở nhưng bà N không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 31/5/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.

Nay, Ngân hàng yêu cầu bà N phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/6/2019 là 75.285.599 đồng (trong đó nợ gốc là 66.109.523 đồng và trong hạn là 8.048.863 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.127.213 đồng) và lãi suất tiếp tục phát sinh theo thoả thuận cho đến khi trả dứt nợ.

- Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập bà N đến Toà để tham gia phiên họp, phiên hoà giải và phiên tòa nhưng bà N đều vắng mặt không có lý do cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X phát biểu quan điểm

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng yêu cầu bà N trả số tiền nợ vay, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã S, huyện X, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N trả tiền nợ vay theo hợp đồng tín dụng với số tiền là 83.591.379 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng”, “Phiếu yêu cầu” do Ngân hàng và bà N ký kết. Có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng và bà N đã xác lập hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng.

Xét thấy: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/02/2017 của Ngân hàng với bà N được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều kiện và điều khoản thẻ tín dụng hai bên ký kết quy định về trách nhiệm thanh toán tất cả các khoản tiền đã giao dịch và các khoản phí, lãi và các chi phí phát sinh nếu không thanh toán đúng hạn cho Ngân hàng.

Sau khi được Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng, bà N đã giao dịch bằng thẻ tín dụng Motor Card số tài khoản 3796739583 từ ngày 31/3/2017 đến ngày 31/01/2019. Ngày 31/5/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với bà N. Đến nay bà N chưa thanh toán số tiền nợ vốn là 66.109.523 đồng. Tại Điều 2 và 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng hai bên ký kết có quy định “Chủ thẻ đồng ý đã nhận được thẻ khi thẻ đã có phát sinh giao dịch. Chủ thẻ chịu trách nhiệm đối với việc thanh toán tất cả các giao dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát sinh trên tài khoản do việc sử dụng thẻ” và “Trường hợp chủ thẻ có bất kỳ khoản nợ nào khác tại Sacombank và/hoặc tại bất cứ tổ chức tín dụng nào khác phát sinh quá hạn, toàn bộ dư nợ của chủ thẻ theo hợp đồng này cũng được xem là quá hạn….Khi sự kiện vi phạm xảy ra đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: - Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ”. Như vậy, bà N không thanh toán số tiền đã thực hiện giao dịch còn lại là vi phạm thoả thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.

Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà N tuy nhiên bà N không đến tham dự phiên tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà N phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó Hội đồng xét xử xác định bà N còn nợ Ngân hàng số tiền nợ vốn là 66.109.523 đồng. Theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Xét thấy bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát, buộc bà N trả số tiền vốn là 66.109.523 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:

Theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng áp dụng tính lãi quá hạn khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với loại thẻ tín dụng mà bà N đang sử dụng là “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ”, như vậy theo thoả thuận bà N phải chịu lãi suất đối với thẻ Motor Card là 2.49%/tháng (150% x 1.66%/tháng). Nguyên đơn yêu cầu bà N trả tiền lãi quá hạn kể từ ngày 31/5/2019 đến ngày 06/11/2019 là 9.432.993 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.

Như vậy, lãi suất quá hạn sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 06/11/2019 cho đến khi bà N thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất và mức phí quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/02/2017 của Ngân hàng

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S. Buộc bà N trả cho Ngân hàng S số tiền:

- Vốn là 66.109.523 đồng (Sáu mươi sáu triệu một trăm lẻ chín nghìn năm trăm hai mươi ba đồng)

- Lãi trong hạn là: 8.048.863 đồng (Tám triệu không trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng).

- Lãi quá hạn là: 9.432.993 đồng (Chín triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn chín trăm chín mươi ba đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 2,49%/tháng mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/02/2019.

2. Về án phí:

Bà N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.179.568 đồng.

Ngân hàng S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.882.000 đồng theo biên lai thu tiền số 2844 ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ