CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NHÂN DÂN
C N H
H CH N H V T N M T NH B NH TH N
c l p – T do – H nh ph c Bản án số: 39/2022/DS-PT Ngày: 21 - 4 -2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC C N H
H CH N H V T N M
T
N NHÂN DÂN T NH B NH TH N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quản,
Bà Vũ Thị Thanh Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung, Thư Toà án nhân dân t nh B nh Thu n.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh B nh Thu n xét xử phúc thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số 17/2022/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2022/QĐ – PT ngày 04 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1958. Địa ch : thôn 3, xã M, huyện Tánh Linh, t nh B nh Thu n: Có mặt.
- B đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1988. Địa ch : thôn 1, xã M, huyện Tánh Linh, t nh B nh Thu n: Ông P ủy quyền cho bà S tham gia phiên tòa theo giấy ủy quyền được UBND xã M chứng thực ngày 18/4/2022. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đ nh P1, sinh năm 1954. Địa ch : thôn 2, xã M, huyện Tánh Linh, t nh B nh Thu n. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Trần Văn P - bị đơn (Vắng mặt).
N D N VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Trần Th T trình bày: Trước đây, bà T có cho vợ chồng bà S, ông P vay số tiền 21.500.000đồng để đi điều trị bệnh th n của ông P. Thời điểm này, bà S có vào tờ giấy vay tiền. Trong giấy vay tiền thể hiện thời hạn vay 01 tháng, không tính lãi. Bà T cho vợ chồng bà S trả hàng tháng 5.000.000đồng. Khi đến hạn bà T đã nhiều lần đến nhà yêu cầu trả tiền nhưng bà S hông trả. V v y mà ông P viết thêm một tờ giấy nợ khác thể hiện có vay bà T số tiền 21.500.000đồng vào ngày 17/10/2018. Sau khi ông P viết giấy nợ thì bà T đã trả lại cho ông P giấy nợ mà trước đây bà S ký. Nay bà T hởi iện yêu cầu vợ chồng ông P, bà S phải trả lại số tiền 21.500.000đ, bà T hông yêu cầu tính lãi.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình P1 trình bày: Ông P1 và bà Trần Thị T là vợ chồng nhưng đã ly hôn. Số tiền mà bà T iện đòi vợ chồng ông P là tài sản riêng của bà T, hông liên quan đến ông. Do đó, ông P1 hông có yêu cầu g .
B đơn bà Nguyễn Th S trình bày: Vào năm 2017 bà S mua 01 bảo hiểm do bà T làm đại l bán với số tiền 15.000.000đồng. Trước hi mua, bà S nói không có tiền mua, nhưng bà T cho hốt hụi để đóng bảo hiểm. Bản thân bà S không rành về huê hụi, nhưng bà T nói ông P đang bị bệnh th n th bản thân bà S là vợ phải có trách nhiệm lo sức hỏe cho ông P. Bà T nhiều lần thuyết phục bà S mua bảo hiểm nên bà S đồng . Sau đó, bà S đi đến nhà bà T th gặp chị L. Bà S hỏi chị L về cách thức chơi hụi th chị L nói là chơi để có số tiền chứ hông có lổ nhiều nên bà S tham gia chơi hụi do bà T làm chủ. Bà T có viết cho bà S một tờ giấy nhỏ, còn hụi bao nhiêu người chơi, số tiền bao nhiêu thì bà S hông biết. Bà T đưa cho bà S số tiền 22.000.000đồng nhưng trừ vào hợp đồng bảo hiểm là 15.000.000đồng. Sau đó, bà S đóng hàng tháng cho bà T 3.000.000đồng, nhưng các bên hông viết giấy tờ g . Thấy thời gian đóng tiền rất lâu mà hông hết nợ nên bà S có hỏi bà T tại sao đóng hoài hông hết thì bà T nói là chơi hụi th phải đóng.
Bà S thừa nh n trước đây bà có vào một tờ giấy trong cuốn sổ nhỏ của bà T có nội dung: bà S nợ bà T số tiền 21.500.000đồng. Tuy nhiên, bà S đã trả xong cho bà T số tiền này nhưng bà T vẫn vào nhà đòi nợ và chửi bới. Có lần vào đêm huya, bà T đến nhà đòi nợ và chửi bới. Do sợ làm phiền đến cha mẹ, hàng xóm nên ông P đã vào một tờ giấy ghi nợ thừa nh n còn nợ bà T số tiền 21.500.000đồng. Thực tế th vợ chồng bà S hông có nợ g bà T. Do đó bà S hông chấp nh n yêu cầu hởi iện của bà T. Bà S cho rằng: Chữ trong giấy nợ (giấy pho to) có trong hồ sơ vụ án hông phải là chữ của bà S. Bà S yêu cầu bà T phải cung cấp tờ giấy ghi nợ do bà S trong cuốn sổ nhỏ để bà S xác định đó có phải là chữ của bà S hay không.
B đơn ông Trần Văn P trình bày: Vào năm 2018, do bà T đến nhà ông P chửi bới, la lớn tiếng. Do trời tối nên ông P sợ làm phiền đến hàng xóm. Ông P hông biết bà T tính toán sao mà cho rằng vợ chồng ông còn nợ số tiền 21.500.000đồng. Bản thân ông P hông muốn cha mẹ biết nên ông P đã nh n nợ cho bà T số tiền 21.500.000đồng. Thực tế vợ chồng ông P hông nợ g của bà T v bản thân ông P bị bệnh th n th bà T hông thể cho mượn tiền. Nếu bà T cho ông P mượn tiền th ông P không có hả năng trả. Nhưng thời gian sau hi
giấy ghi nợ, hàng tháng ông P tiết iệm tiền để trả nợ cho bà T từ 01 đến 02 triệu đồng, trả trong thời hạn 02 năm. Khi trả tiền các bên hông viết giấy tờ g . Ông P có ghi vào sổ theo dõi nhưng hông còn lưu giữ. Ông P xác định số tiền ghi nợ vào năm 2018 đã trả xong nên hông còn nợ bà T. Do đó, ông P không chấp nh n yêu cầu hởi iện của bà T.
Quá tr nh giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà T cung cấp 01 giấy ghi nợ ngày 17/10/2018 do ông Trần Văn P xác l p; 01 USB ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà T và ông P. Ông P, bà S thừa nh n chữ , chữ viết trong giấy ghi nợ ngày 17/10/2018 là của ông P và hông cung cấp tài liệu, chứng cứ g khác. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương về những vấn đề liên quan đến vụ án và lấy lời hai 06 người làm chứng theo yêu cầu của ông P, bà S.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh đã quyết đ nh:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; hoản 1 điều 35, các Điều 147, 271; hoản 2 Điều 227; hoản 2 Điều 228; Điều 273 của Bộ lu t tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Lu t Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; Điều 463, hoản 2 Điều 470; hoản 2 Điều 357 BLDS 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nh n yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị T: Buộc ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị S phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị T số tiền còn nợ 21.500.000đồng (hai mươi mốt triệu, năm trăm ngàn đồng).
Chia phần:
- Ông Trần Văn P có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T số tiền 10.750.000 đồng (mười triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
- Bà Nguyễn Thị S có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T số tiền 10.750.000 đồng (mười triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lu t (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ lu t dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp lu t có quy định hác.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp lu t.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ông Trần Văn P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
T i phiên tòa ph c thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn P giữ nguyên yêu cầu háng cáo.
Nguyên đơn bà Trần Thị T giữ nguyên yêu cầu hởi iện.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu iến về việc tuân theo pháp lu t trong quá tr nh giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Bị đơn ông Trần Văn P háng cáo nhưng hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu háng cáo là có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hông chấp nh n háng cáo của ông Trần Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NH N ỊNH C T
N:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy bị đơn ông Trần Văn P kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định pháp lu t nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp lu t tranh chấp và thụ l giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng dân sự;
[2] Xét háng cáo của ông Trần Văn P, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Nguyên đơn bà Trần Thị T hởi iện yêu cầu ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S trả số tiền nợ gốc 21.500.000đồng. Để chứng minh cho yêu cầu hởi iện, bà T đã giao nộp 01 bản gốc “giấy ghi nợ” ngày 17/10/2018 do ông Trần Văn P viết và tên. Nội dung thể hiện ông P có vay của bà Đức (tên thường gọi của bà T) số tiền 21.500.000 đồng, vay hông có lãi, mục đích vay để chữa bệnh. Mỗi tháng ông P phải trả 5.000.000 đồng tiền gốc. Bà T xác nh n ch có duy nhất 01 hoản nợ 21.500.000 đồng nhưng được ghi thành 02 lần, cụ thể bà S ghi vào ngày 25/7/2018 còn ông P ghi vào ngày 17/10/2018.
Quá tr nh tham gia tố tụng, bà Nguyễn Thị S thừa nh n: Vào năm 2018 bà S có một giấy ghi nợ có nội dung vay của bà T 21.500.000đồng. Nguồn gốc số tiền nợ này là do bà S mua bảo hiểm do bà T làm đại l nhưng hông có tiền trả nên bà S đã tham gia chơi hụi do bà T làm chủ và hốt hụi trước để trả tiền bảo hiểm, sau đó đóng hụi chết hàng tháng cho bà T. Ngoài ra, còn có số tiền nợ mua thịt heo của bà T nên bà T đã tính toán tổng cộng bà S còn nợ 21.500.000đồng. Ông P và bà S đều thừa nh n chữ viết, chữ trong giấy ghi nợ ngày 17/10/2018 là của ông Trần Văn P. Do đó, việc bà S yêu cầu làm rõ giấy ghi nợ ngày 25/7/2018 là hông cần thiết. Ông P và bà S đều cho rằng vợ chồng ông đã trả xong số tiền nợ 21.500.000đồng cho bà T. Lời hai này của ông P, bà S hông được bà T thừa nh n. Phía ông P và bà S hông cung cấp được chứng cứ đã trả nợ. Ngoài ra, lời hai của những người làm chứng do ông P và bà S yêu cầu đều không chứng minh được vợ chồng ông P nợ bà T bao nhiêu tiền, nợ những hoản nào và đã trả được bao nhiêu tiền, trả thời gian cụ thể hi nào. Tòa án cấp sơ thẩm đã thu th p tài liệu chứng cứ từ Công an huyện Tánh Linh liên quan đến đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị S đối với bà Trần Thị T vào năm 2018 nhưng vẫn hông có tài liệu, chứng cứ chứng minh được vợ chồng bà S đã trả cho bà T 21.500.000đồng theo như tr nh bày của vợ chồng ông P. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu th p có trong hồ sơ vụ án để tuyên buộc ông P và bà S phải liên đới trả cho bà T số tiền 21.500.000đồng là có căn cứ pháp lu t.
Từ nh n định trên, xét thấy yêu cầu háng cáo của ông Trần Văn P là hông có cơ sở chấp nh n. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh B nh Thu n. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm đã chia phần nghĩa vụ trả nợ giữa ông P và bà S là hông phù hợp, bởi ông P và bà S là vợ chồng nên phải có nghĩa vụ liên đới về tài sản. Do đó cấp phúc thẩm sẽ điều ch nh lại phần tuyên án cho đúng quy định.
[3] Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT ỊNH:
Căn cứ hoản 1 Điều 308, hoản 1 Điều 148 Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Không chấp nh n háng cáo của ông Trần Văn P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Tánh Linh.
Áp dụng Điều 288, Điều 357, Điều 463 và hoản 1, 4 Điều 466 Bộ lu t dân sự năm 2015; Điều 27 Lu t Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; hoản 2 Điều 26, hoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nh n yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị T.
Buộc ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị T số tiền nợ 21.500.000đồng (hai mươi mốt triệu, năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ lu t dân sự năm 2015.
2/ Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S phải nộp 1.075.000đồng (một triệu, hông trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3/ Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn P phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí phúc thẩm, được hấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0007455 ngày 06/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Ông P đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Lu t thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày tuyên án (ngày 21/4/2022).
| Nơi nhận: - VKSND t nh B nh Thu n; - TAND huyện Tánh Linh; - Chi Cục THADS huyện Tánh Linh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa DS; Tổ HCTP. | TM.H ỒN ÉT Ử THẨM PH N - CH TỌ PH ÊN T Trần Phước Hiệu |