- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi Nguyen Thi Lien xin ly hon anh Nguyen Van Vinh"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2024/HNGĐ- ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Bình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Khảm
2. Ông Đỗ Hồng Phúc
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương– Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993 (Có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990, (Vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 23/4/2023 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn V ngày 06/6/2019. Trước khi cưới có tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh N. Trước khi kết hôn hai vợ chồng quen biết là do đều làm thuê cho lò bánh mỳ ở N. Tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường. Sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V bị nghiện ma túy không chịu làm ăn. 2021 anh đi cai nghiện tự nguyện 06 tháng khi về anh vẫn tiếp tục nghiện không chịu làm ăn mà còn bắt chị phải đưa tiền để anh sử dụng ma túy dẫn đến tình cảm vợ chồng vợ chồng rạn nứt và ly thân từ năm 2023 đến nay, sau khi ly thân anh V vẫn không chịu làm ăn gì mà thường xuyên quấy rối mẹ con chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh V.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Bách T, sinh ngày 25/3/2020 và cháu Nguyễn Văn Đức P, sinh ngày 27/5/2021. Hiện 02 cháu đang ở với chị. Ly hôn chị xin nuôi 02 cháu T và P, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về điều kiện nuôi con chị có đủ điều kiện để nuôi 02 con chung cụ thể về chỗ ở chị đang ở tại nhà của bố mẹ đẻ chị và thu nhập là lương làm thuê 07 triệu đồng/01 tháng.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa.
Tòa án triệu tập anh Nguyễn Văn V đến tòa để giải quyết việc chị Nguyễn Thị L xin ly hôn nhưng anh V đều vắng mặt không lý do.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/7/2024 mẹ đẻ anh V là bà Nguyễn Thị C khai chị L, anh V mâu thuẫn như thế nào bà không rõ. Tòa án có giao Thông báo thụ lý vụ án số 88/TB-TLVA và nhiều giấy triệu tập cho anh V yêu cầu anh đến Tòa để giải quyết việc chị L xin ly hôn, nhưng anh V không có mặt ở nhà nên bà có nhận thay, sau khi bà nhận các giấy tờ trên bà có thông báo cho anh V biết qua điện thoại, anh V có nói với bà là anh bận không về Tòa để giải quyết được, quan điểm của anh là chị L xin ly hôn anh đồng ý, về con chung anh đồng ý để chị L nuôi tất cả hai con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung anh không yêu cầu giải quyết. Hiện tại anh V đang làm gì, ở đâu, địa chỉ cụ thể của anh V như thế nào bà không rõ.
Tại biên bản xác minh ngày 11/7/2024, UBND xã Y, huyện Y, tỉnh V cho biết anh V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã Y. Nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị như thế nào địa phương không rõ, hiện anh V làm gì và địa chỉ cụ thể của anh V ở đâu địa phương không rõ.
Tại biên bản xác minh ngày 12/8/2024, UBND xã D, huyện D, tỉnh N cho biết Anh V và chị L có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D. Nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị như thế nào địa phương không rõ, hiện anh V làm gì và địa chỉ cụ thể của anh V ở đâu địa phương không rõ.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y trình bày quan điểm như sau:
Về tố tụng: Tòa án đã chấp hành đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành quy định của tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Bách T sinh ngày 25/3/2020 và cháu Nguyễn Văn Đức P, sinh ngày 27/5/2021. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí, chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị L nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh V. Bị đơn anh V có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh V. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh V đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng anh V vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa lần 2 anh V vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Vinh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L kết hôn với anh Nguyễn Văn V ngày 06/6/2019 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh N đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do mâu thuẫn dẫn đến rạn nứt tình cảm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo cho anh V đến tòa để hòa giải nhưng anh V cũng không đến chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị L xử cho anh chị ly hôn để các bên ổn định cuộc sống riêng của mình.
Về con chung: Chị L anh Vcó 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Bách T, sinh ngày 25/3/2020 và cháu Nguyễn Văn Đức P, sinh ngày 27/5/2021. Hiện 02 cháu đang ở với chị. Ly hôn chị xin nuôi 02 cháu T và P, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu xin nuôi con của chị L là tự nguyện và phù hợp thực tế và pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị L là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh V không trình bày lời khai nên không rõ quan điểm. Nếu sau khi ly hôn anh V có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Văn Bách T, sinh ngày 25/3/2020 và cháu Nguyễn Văn Đức P, sinh ngày 27/5/2021 (Hiện 02 cháu đang ở với chị). Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003274 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y. Chị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã D (để vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bình Thuận |