vanban.org

Bản án 39/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: tuyên bố bị cáo Ngô Viết L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Viết L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (08/11/2025). Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Ngô Viết L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Viết Long - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: tuyên bố bị cáo Ngô Viết L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2026/HS-ST
Ngày: 05 - 02 - 2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Đức Cường và bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

- Ngô Viết L, sinh ngày 24/9/1999; nơi thường trú: thôn HD, xã VĐ, Thành phố Hà Nội; nơi ở: tổ dân phố TĐ, phường LH, tỉnh Ninh Bình; số định danh cá nhân: 001099014968; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Viết T và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 21/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện UH, Thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/4/2024; ngày 20/12/2024, bị Tòa án nhân dân huyện MĐ, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 16/10/2025; tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: ngày 07/6/2016, bị Đồn Công an VA, huyện UH, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 300.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; ngày 21/02/2022, bị Công an xã SC, huyện UH, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.250.000 đồng về hành vì “Xâm hại sức khoẻ thành viên gia đình”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2025 đến ngày 17/11/2025 chuyển tạm giam, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Ninh Bình, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ông Lê Khắc H, sinh năm 1973; nơi cư trú: tổ dân phố TQ, phường LH, tỉnh Ninh Bình; có Đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Dương Tuấn A, sinh năm 2001; nơi cư trú: tổ dân phố PL2, phường NY, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, khoảng 03 giờ ngày 03/11/2025, Ngô Viết L từ phòng trọ ở tổ dân phố TĐ, phường LH, tỉnh Ninh Bình đi bộ theo Quốc lộ 38 (cũ) đến địa phận phường LH, tỉnh Ninh Bình, với mục đích tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 4 giờ cùng ngày, khi đi đến nhà ông Lê Khắc H ở tổ dân phố TQ, phường LH, tỉnh Ninh Bình, quan sát thấy không có người, cửa nhà không khóa; nên L trèo qua tường vào trong sân, rồi mở cửa đi vào trong nhà. Nhìn thấy ông H đang nằm ngủ trên giường, L lục tìm trên giường và lấy 02 chiếc điện thoại cất vào trong túi quần bên phải đang mặc, rồi trèo tường ra ngoài, đi về phòng trọ. Khi về phòng trọ, L lấy điện thoại vừa trộm cắp ra kiểm tra thì biết trong đó có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo màu xanh. L kiểm tra chiếc điện thoại Remid Note 12 Turbo màu xanh thấy có khóa màn hình, L nhập thử mật khẩu là “000000” nhưng không được; L tiếp tục nhập thử mật khẩu là “111111” thì mở được khóa màn hình. Còn chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng không có mật khẩu khóa màn hình. Sau đó, L cất 02 điện thoại dưới gối trên giường. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L cầm chiếc điện thoại Redmi Note 12 Turbo màu xanh đến quán điện thoại “Tuấn A” địa chỉ tại tổ dân phố TĐ, phường LH, tỉnh Ninh Bình của anh Dương Tuấn A và nói với anh Tuấn A: “Em muốn bán cái điện thoại”, đồng thời đưa điện thoại cho anh Tuấn A xem. Khi đó, anh Tuấn A hỏi: “Em xin mật khẩu màn hình, anh bán bao nhiêu tiền?”, L nói: “Sáu số 1, bán một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng”. Sau khi kiểm tra máy xong, Tuấn A hỏi L: “Anh muốn chuyển khoản hay tiền mặt?”, L nói: “Em lấy tiền mặt”, thì Tuấn A đưa cho L số tiền 1.550.000 đồng, gồm 03 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. L cầm tiền, sau đó đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 07/11/2025, ông Lê Khắc H đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình trình báo vụ việc. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường, rà soát đối tượng khả nghi và triệu tập Ngô Viết L đến làm việc. Quá trình làm việc, L đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.

* Vật chứng, tài sản tạm giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, do A Dương Tuấn A tự nguyện giao nộp (được niêm phong trong phong bì kí hiệu M1).

- Ngày 08/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Viết L tại tổ dân phố TĐ, phường LH, tỉnh Ninh Bình; quá trình khám xét thu giữ dưới gối trên giường ngủ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng, máy cũ đã qua sử dụng (được niêm phong trong phong bì kí hiệu M2).

Ngày 11/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình ban hành Yêu cầu định giá tài sản, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường LH, tỉnh Ninh Bình định giá đối với 02 điện thoại di động đã thu giữ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường LH, tỉnh Ninh Bình kết luận: “Giá trị theo thị trường của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo tại thời điểm ngày 03/11/2025 là: 2.500.000 đồng. Giá trị theo thị trường của chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S tại thời điểm ngày 03/11/2025 là: 700.000 đồng. Tổng giá trị định giá tài sản là 3.200.000 đồng”.

* Về trách nhiệm dân sự: ông Lê Khắc H đề nghị được trả lại 02 điện thoại di động và không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác; anh Dương Tuấn A không yêu cầu Ngô Viết L phải bồi thường số tiền 1.550.000 đồng anh Tuấn A đã dùng để mua chiếc điện thoại di động từ L.

Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKS-KV5 ngày 15/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Ngô Viết L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Ngô Viết L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự

- xử phạt bị cáo Ngô Viết L từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (08/11/2025); hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - trả lại cho ông Lê Khắc Hải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại có đơn xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án; nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Ngô Viết L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, Bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: khoảng 04 giờ ngày 03/11/2025, tại gia đình ông Lê Khắc H thuộc tổ dân phố TQ, phường LH, tỉnh Ninh Bình; lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Ngô Viết L đã lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo trị giá 2.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S trị giá 700.000 đồng của ông Lê Khắc H. Tổng trị giá tài sản L chiếm đoạt là 3.200.000 đồng. Sau đó, L đã bán 01 điện thoại di động Redmi Note 12 Turbo cho anh Dương Tuấn A lấy 1.550.000 đồng, rồi tiêu xài cá nhân hết.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Ngô Viết L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý; nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị kết án và phải đi chấp hành án phạt tù; nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó, thể thiện sự coi thường pháp luật, không chịu cải tạo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại là ông Lê Khắc H đề nghị được trả lại 02 điện thoại di động và không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác; anh Dương Tuấn A không yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự; nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo: đây là tài sản hợp pháp của ông Lê Khắc H; nên cần trả lại cho ông Hải.

Các vấn đề khác:

- Đối với anh Dương Tuấn A: quá trình điều tra xác định, khi mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo, anh Tuấn A không biết đó là tài sản do Ngô Viết L trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Tuấn A về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Về hình sự: tuyên bố bị cáo Ngô Viết L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Ngô Viết L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (08/11/2025).

- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Ngô Viết L.

2. Về xử lý vật chứng: trả lại cho ông Lê Khắc Hải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Turbo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng chứng ngày 16/01/2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình).

3. Án phí: bị cáo Ngô Viết L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ