- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2026/HS-PT Ngày: 28 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Hồng Phước.
Các Thẩm phán: ông Trần Việt Trung;
ông Nguyễn Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký TAND tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại Phòng xét xử án hình sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2026/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Dương Văn T, do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2026/QĐXXPT-HS ngày 14/5/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Bị cáo có kháng cáo:
Bị cáo: Dương Văn T, sinh ngày 02/5/1993 tại Quảng Trị; CCCD: 044093005747; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1, sinh năm 1971 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1971; có vợ Đỗ Thị Thanh H1, sinh năm 1993; bị cáo có 02 con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2025 đến ngày 22/10/2025. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Bị hại: Anh Đỗ Đức C, sinh ngày 28/02/2007; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 14/8/2025, Dương Văn T sang nhà ông Ngô Sỹ P ở đối diện quán Bi A của T để chơi. Tại đây, T gặp anh Đỗ Đức C đang ngồi chơi với một số người bạn trên giường đặt ở sân, T cho rằng trước đây C nợ số tiền 2.000.000 đồng của T nhưng nhiều lần đòi mà C không trả, nên T đi đến vị trí C đang ngồi và nói “Răng mi nợ tau lâu mà không trả tiền cho tau” rồi dùng tay tát vào mặt của C một cái làm C ngã nghiêng sang bên trái, hai tay ôm đầu và trả lời “mấy bựa em đi làm tê". T dùng tay lấy điện thoại của C đang để trước mặt C rồi tiếp tục dùng tay, chân đánh vào người C vừa nói “Răng mi không trả tiền cho tau” lúc này những người có mặt trong nhà ông P đến căn ngăn, C đứng dậy giằng co lấy lại điện thoại nhưng T không trả mà túm áo đẩy C ra. Quá trình giằng co, xô đẩy khi ra đến cổng nhà ông P thì T nhặt một cây gậy bi-a hỏng để bên phải cổng và đánh về phía C nhưng không trúng, C bỏ chạy, T cầm gậy đuổi theo đánh về phía C nhưng không trúng, thấy C không có ý định quay lại nên T quay lại quán Bi A của mình.
Kết luận định giá tài sản số: 3399/KL-HĐĐGTS ngày 10/9 2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của UBND tỉnh Q kết luận: Giá trị của điện thoại di động, hiệu IPHONE XSMAX, màu đen, loại 64GB được mua vào ngày 04/8/2025 tại thời điểm xảy ra vụ án ngày 14/8/2025 là 5.566.000 đồng.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 123/KLTTCTTTGĐYK-PY ngày 28/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ tổn thương cơ thể của Đỗ Đức C tại thời điểm giám định là 0% (không phần trăm).
Kết luận giám định số: 1066/KI-KTHS ngày 20/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận đối với vật chứng là cây gậy Dương Văn T dùng để đuổi đánh Đỗ Đức C kết luận: Mẫu cần giám định không phải là vũ khí, công cụ hỗ trợ; Mẫu cần giám định đánh vào cơ thể người có thể gây ra thương tích.
Kết luận giám định số: 1067/KL-KTHS ngày 04/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận giám định kỹ thuật số đối với video ghi lại diễn biến vụ việc, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong mẫu cần giám định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 38; Điều 54; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 292, 293 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 18/8/2025 đến ngày 22/10/2025. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, bị cáo Dương Văn T kháng cáo xin hưởng án treo với lý do: Bản thân luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật nơi cư trú, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ không có việc làm, bị cáo trực tiếp nuôi mẹ già và 02 con nhỏ (lớn 08 tuổi và 02 tuổi).
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, bị hại anh Đỗ Đức C kháng cáo xin hưởng án treo cho bị cáo Dương Văn T với lý do: Mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Dương Văn T là quá nghiêm khắc, trong vụ án này một phần lỗi của sự việc là do bị hại gây ra là do bị hại nợ tiền của bị cáo lâu ngày không trả nên bị cáo bức xúc chứ mục đích của bị cáo không phải chiếm đoạt tài sản của bị hại; hoàn cảnh gia đình bị cáo T thuộc diện khó khăn; đã hoàn thành trách nhiệm dân sự cho bị hại.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T và bị hại Nguyễn Đức C1, sửa Bản án sơ thẩm số 41/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Dương Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/5/2026.
Bị cáo Dương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Văn T và bị hại Nguyễn Đức C1 phù hợp với các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét kháng cáo của bị cáo và bị hại theo quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 22 giờ 30 ngày 14/8/2025, Dương Văn T đã có hành vì dùng tay, chân và gậy bi a đánh bị hại để chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại hiệu IPHONE XSMAX, màu đen, trị giá 5.566.000 đồng của anh Đỗ Đức C. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo Dương Văn T xin được hưởng án treo và bị hại Nguyễn Đức C1 đề nghị cho bị cáo Dương Văn T được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “bồi thường thiệt hại” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới đó là đơn xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân và vợ đang nuôi 02 con nhỏ trong lúc vợ không có việc làm; mẹ già thường xuyên đau ốm; gia đình bị cáo có trách nhiệm thờ cúng Liệt sỹ (có xác nhận của chính quyền địa phương) và giấy biên nhận tiền của bị hại thể hiện bị cáo tiếp tục hổ trợ, bồi thường thêm cho bị hại 10.00.000 đồng. Phía bị hại trình bày tại đơn kháng cáo thừa nhận một phần lỗi của sự việc là do bị hại nợ tiền của bị cáo lâu ngày không trả nên bị cáo bức xúc chứ mục đích của bị cáo không phải chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là do bộc phát và ức chế vì bị hại mượn tiền nhưng không chịu trả; hiện nay hoàn cảnh của gia đình bị cáo khó khăn, có 02 con nhỏ, mẹ già yếu, vợ không có việc làm và bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị hại có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo và đã thừa nhận có phần lỗi của mình và cũng là nguyên nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đây là tình tiết mới phát sinh giai đoạn phúc thẩm và xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; do đó cần chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương văn T và bị hại Nguyễn Đức C1 để cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm việc, nuôi con nhỏ đang độ tuổi ăn học và chăm sóc mẹ già thường xuyên ốm đau.
. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 98/2026/HSPT-LCĐKNCT ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đối với bị cáo Dương Văn T.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T và bị hại Nguyễn Đức C1, sửa Bản án sơ thẩm số 41/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/5/2026.
Giao bị cáo Dương Văn T cho UBND xã Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; - TAND khu vực 1 (05 bản); - VKSND khu vực 1; - Phòng THADS khu vực 1; - Bị cáo; - UBND xã Đông Trạch; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. THẨM PHÁN Nguyễn Văn Dương Trần Việt Trung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước |