vanban.org

Bản án 39/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Ý được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.

Về nuôi con chung: 1. Giao cho chị Đinh Thị Ý trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục một con chung của chị Ý và anh L là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Ý được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2026
“V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Nguyễn Sỹ Nghị.

2. Ông Hồ Văn Hào.

-Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 30/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2026/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Ý, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Thế L, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03/11/2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị Ý trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ý và anh L đăng ký kết hôn vào ngày 16/7/1999 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là UBND xã N, tỉnh Nghệ An), hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung mà không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ý yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L.

Về con chung: Vợ chồng chị có ba con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/01/2001; Nguyễn Thị Kiều L1, sinh ngày 06/6/2007 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, vợ chồng không ai có con riêng, không nhận nuôi con nuôi.

Nay ly hôn hai con chung là Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kiều L1 đã trưởng thành, có cuộc sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Còn con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung trưởng thành theo nguyện vọng của con chung. Hiện tại chị đang làm nghề lao động tự do, thu nhập đảm bảo đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có tài sản cho ai vay, không vay của ai tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Thế L thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thỉnh thoảng anh L có về. Do đó Tòa án đã niêm yết các văn văn tố tụng cho anh L theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đinh Thị Ý được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Đinh Thị Ý trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục một con chung của chị Ý và anh L là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, đến lúc con chung trưởng thành.

Còn hai con chung của chị Ý, anh L là Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kiều L1 đã trưởng thành, có cuộc sống tự lập, chị Ý không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ý không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: Chị Đinh Thị Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Đinh Thị Ý phải chịu toàn bộ án phí LHST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An nhận định:

Về tố tụng: Chị Đinh Thị Ý khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Thế L có hộ khẩu thường trú tại xóm Đ, xã N, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.

Nguyên đơn chị Đinh Thị Ý có đơn xin được xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Thế L đã được Toà án triệu phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Ý và anh Nguyễn Thế L, đăng ký kết hôn vào ngày ngày 16/7/1999 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là UBND xã N, tỉnh Nghệ An), hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị Ý và anh L là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị Ý trình bày thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung mà không thể hàn gắn được. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Qua xác minh tại địa phương xác định hiện tại anh L không có mặt tại địa phương, thi thoảng anh L có về và trong quá trình chung sống thì chị Ý, anh L có xảy ra mâu thuẫn hay không thì B cán sự xóm không nắm được. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo, triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh L nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh L không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng.

Xét mâu thuẫn giữa chị Ý, anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Ý được ly hôn với anh L như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An là có căn cứ.

2.2. Về nuôi con chung: Chị Ý và anh L có ba con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/01/2001; Nguyễn Thị Kiều L1, sinh ngày 06/6/2007 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.

Nay ly hôn hai con chung là Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kiều L1 đã trưởng thành, có cuộc sống tự lập nên chị Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, chị Ý có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung trưởng thành theo nguyện vọng của con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị Ý làm nghề lao động tự do, điều kiện thu nhập, ăn ở, sinh hoạt đảm bảo để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Hơn nữa con chung cũng có nguyện vọng được ở với chị Ý. Qua xác minh tại địa phương xác định trong quá trình chung sống chị Ý và anh L đều không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh L đều vắng mặt không có lý do nên không thể hiện được ý chí của anh L về nuôi con chung. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chung của chị Ý và anh L được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên khi chị Ý và anh Lâm ly H, cần giao con chung của chị Ý và anh L cho chị Ý được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 là phù hợp.

Chị Ý không yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hai con chung của chị Ý, anh L là Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kiều L1, đều đã trưởng thành, có cuộc sống tự lập nên chị Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về chia tài sản: Chị Đinh Thị Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Buộc chị Đinh Thị Ý phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 238 và các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Ý được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao cho chị Đinh Thị Ý trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục một con chung của chị Ý và anh L là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/4/2009, đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

2.2. Chị Ý không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

2.4. Đối với hai con chung của chị Ý, anh L là Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/01/2001; Nguyễn Thị Kiều L1, sinh ngày 06/6/2007, đều đã trưởng thành, có cuộc sống tự lập, chị Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về chia tài sản: Chị Đinh Thị Ý không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Đinh Thị Ý phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị Ý đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002246 ngày 04/11/2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh N (chị Ý đã nộp đủ tiền án phí).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ