vanban.org

Bản án 39/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân và gia đình năm 2014.

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban T1ờng vụ Quốc hội về việc quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T-Thái Thanh P"
  • Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 39/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 13/02/2026

V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Chí Hữu - Ông Nguyễn Văn Kim - T1 ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh T1- T1 ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu - Kiểm sát viên. Trong ngày 13 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ hôn nhân và gia đình án thụ lý số: 369/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2026/QĐST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự: - Nguyên đơn:Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1988; Nơi cư trú: ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long. - Bị đơn: Anh Thái Thanh P, sinh năm 1983; Nơi cư trú: ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long. Tất cả đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2025, trong suốt quá trình tố tụng chị Hoàng Thị T trình bày: Chị và anh P tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 09/3/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh P1c và có với nhau ba con chung tên Thái Hoàng P1, sinh ngày 25/8/2009, Thái Hoàng T1, sinh ngày 05/6/2016 và Thái Hoàng M, sinh ngày 05/6/2016. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu Tẫn do bất đồng quan điểm, nghi kỵ lẫn nhau nên thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu Tẫn ngày càng trầm trọng và đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh P. Về con chung: Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thái Hoàng P1, sinh ngày 25/8/2009 và Thái Hoàng M, sinh ngày 05/6/2016, anh Thái Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thái Hoàng T1, sinh ngày 05/6/2016, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có. Anh Thái Thanh P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nên không có lời trình bày. Tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 09/01/2026 cháu Thái Hoàng P1 trình bày: Hiện cháu đang sống chung với cha là anh Thái Thanh P, sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống chung với cha. Tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 09/01/2026 cháu Thái Hoàng M trình bày: Hiện cháu đang sống chung với mẹ là chị Hoàng Thị T, sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ. Tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 09/01/2026 cháu Thái Hoàng T1 trình bày: Hiện cháu đang sống chung với cha là anh Thái Thanh P, sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống chung với cha.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long phát biểu: - Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên vi phạm quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. - Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T đối với anh P cụ thể: + Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P được ly hôn với nhau. + Về con chung: Sau khi ly hôn anh Thái Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên chung tên Thái Hoàng P1, sinh ngày 25/8/2009 và Thái Hoàng T1, sinh ngày 05/6/2016, chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Thái Hoàng M, sinh ngày 05/6/2016. Chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P và chị T không yêu cầu. + Về tài sản chung và nợ chung: chị Hoàng Thị T khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 10/112025 của chị Hoàng Thị T đối với anh Thái Thanh P thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long.

Anh Thái Thanh P có nơi cư trú tại xã Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long thụ lý đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho anh Thái Thanh P đến để tham gia phiên tòa nhưng anh P vắng mặt không rõ lý do, đồng thời trong quá trình tố tụng chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh P là phù hợp. [2] Về nội dung tranh chấp: 2.1 Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2009 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống chị T và anh P không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu Tẫn không thể hàn gắn được. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ nên được chấp nhận, bởi lẽ sau khi Toà thụ lý hồ sơ vụ án đã ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải cho anh P biết để anh đến Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long tham gia hoà giải với chị T nhằm tìm biện pháp tích cực để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng anh P vẫn cố tình không đến, điều đó chứng tỏ anh P cũng không có thiện chí đoàn tụ với chị T. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh P là phù hợp. 2.2. Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P có ba con chung tên Thái Hoàng P1, sinh ngày 25/8/2009, Thái Hoàng T1, sinh ngày 05/6/2016 và Thái Hoàng M, sinh ngày 05/6/2016. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thái Hoàng P1 và Thái Hoàng M, còn anh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thái Hoàng T1, anh không có ý kiến, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện cháu M chung đang sống chung với chị T, cháu P1 và cháu T1 đang sống chung với anh P, đồng thời cháu P1 và cháu T1 có nguyện vọng sống chung với anh P còn cháu

M có nguyện vọng sống chung với chị T sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của các cháu không bị thay đổi, không làm ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu P1 và cháu T1 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu M cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về mức cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. 2.3 Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T khai không có nên không xem xét giải quyết. 2.4 Về nợ chung: Chị Hoàng Thị T khai không có nên không xem xét giải quyết. [3] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [4] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Hiền Trang có nghĩa vụ chịu là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). - Căn cứ các điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban T1ờng vụ Quốc hội về việc quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T đối với anh Thái Thanh P, cụ thể tuyên:

1. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P được ly hôn với nhau. 2. Về con chung: Sau khi ly hôn anh Thái Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên chung tên Thái Hoàng P1, sinh ngày 25/8/2009 và Thái Hoàng T1, sinh ngày 05/6/2016, chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Thái Hoàng M, sinh ngày 05/6/2016. Chị Hoàng Thị T và anh Thái Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P và chị T không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T khai không có nên không xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Chị Hoàng Thị T khai không có nên không xem xét giải quyết. 5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Hoàng Thị T có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Trang đã nộp theo biên lai T số 0013044 ngày 25/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. “ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi T1ờng trú./.

Cỡ chữ