vanban.org

Bản án 39/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Ngọc H được ly hôn với anh Lê Hồng H1.

Về con chung: Giao 02 cháu Lê Hồng N - sinh ngày: 24/11/2017 và Lê Ngọc Minh T - sinh ngày: 09/7/2019 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ -Xin ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Ngọc H được ly hôn với anh Lê Hồng H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28-01-2026
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình
xin ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Thanh Tuấn

Ông Lê Văn Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang: Bà Trần Thúy An - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2025/TLST - HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc H - sinh năm: 1991. Có mặt.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Hồng H1 - Sinh năm: 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn - Chị Lê Ngọc H trình bày:

Chị H và anh H1 thông qua người mai mối, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào ngày tháng 02/2017, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G. Vợ chồng hạnh phúc gần 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm kinh tế gia đình. Anh H1 thường xuyên đi chơi, không lo làm ăn, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài, không hạnh phúc. Mặc dù cả hai đã tự sửa đổi nhưng cũng không thể hàn gắn được tình cảm nên đã chấm dứt quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc nhau từ ngày 08/2025 cho đến nay. Nay chị H cương quyết yêu cầu ly hôn với anh H1.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Lê Hồng N - sinh ngày: 24/11/2017 và Lê Ngọc Minh T - sinh ngày: 09/7/2019. Hiện 02 con đang chung sống với chị H, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con do chị H đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Lê Hồng H1 đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án. Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H1 là phù hợp.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H cương quyết yêu cầu ly hôn, anh H1 không có ý kiến và không đưa ra được giải pháp để hàn gắn mâu thuẫn nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh H1.

Về con chung: Hiện 02 con đang trực tiếp chung sống với chị H. Cháu N trên 07 tuổi và có văn bản thể hiện nguyện vọng tiếp tục chung sống với mẹ. Anh H1 không có ý kiến phản đối. Do đó, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng các con là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu N và cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Do chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Ngọc H khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung với anh Lê Hồng H1. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã H, tỉnh An Giang nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

Quá trình giải quyết vụ án, anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng anh H1 vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy sự vắng mặt của anh H1 không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Ngọc H và anh Lê Hồng H1 cưới nhau vào năm 2017, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị H xác định cuộc sống vợ chồng hạnh phúc khoảng 02 năm, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau. Chị và anh H1 đã ly thân từ tháng 08/2025 cho đến nay.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.....”. Anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung trong một khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Quá trình giải quyết vụ án, anh H1 không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H và không đến Tòa án tham gia tố tụng. Mặc khác theo kết quả xác minh thì anh chị đã nhiều lần phát sinh mâu thuẫn nên có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chấp nhận cho chị Lê Ngọc H được ly hôn với anh Lê Hồng H1.

Về con chung:

Theo trình bày của chị Lê Ngọc H và giấy khai sinh có cơ sở xác định vợ chồng có 02 con chung là Lê Hồng N - sinh ngày: 24/11/2017 và Lê Ngọc Minh T

- sinh ngày: 09/7/2019. Hiện 02 con đang chung sống với chị H, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con do đủ khả năng nuôi con.

Xét thấy hiện cháu T và cháu N đang chung sống ổn định với chị H, cháu N đã trên 07 tuổi và có văn bản thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục chung sống với chị H, anh H1 không có ý kiến phản đối về yêu cầu nuôi con của chị H. Do đó áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu N và cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh H1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng:

Do chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung:

Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:

Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002902 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Ngọc H được ly hôn với anh Lê Hồng H1.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Lê Hồng N - sinh ngày: 24/11/2017 và Lê Ngọc Minh T - sinh ngày: 09/7/2019 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh H1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002902 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, chị H được tính kể từ ngày tuyên án là ngày 28-01-2025. Anh H1 được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ