- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị T - Nguyễn Văn T1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2026/HNGĐ - ST Ngày: 06/08/2026 Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán: - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Chất.
2. Bà Vũ Thảo Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Ninh Trọng Khánh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 08 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 04 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 23/2026/QĐST – HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1994; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021. Địa chỉ: Xóm H D, xã K, tỉnh Ninh Bình. Nay là: thôn D, xã K, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Xóm H D, xã K, tỉnh Ninh Bình. Nay là: thôn D, xã K, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên toà vắng mặt chị T, anh T1. Chị T có đơn xin xét xử văng mặt, anh T1 vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
ơ
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ nguyên đơn là chị Đinh Thị T trình bày: Chị T và anh Nguyễn Văn T1 sau thời gian tự do tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 04/02/2017 tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nay là xã K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, mặc dù được hai bên gia đình phân tích hoà giải nhưng anh chị không khắc phục được mâu thuẫn. Thực tế anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2021 đến nay và không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị T và anh T1 không còn tình cảm với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vì vậy chị T đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1 để ổn định cuộc sống
Về con chung, con riêng: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017 hiện cháu đang ở với chị T. Nay ly hôn chị nhận nuôi cháu P và không yêu cầu anh T1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị T. Về con riêng chị T và anh T1 không có, không yêu cầu tòa án giải quyết
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung và công nợ riêng: Chị T và anh T1 không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Văn T1 hiện đang cư trú tại Xóm H D, xã K, tỉnh Ninh Bình. Nay là: thôn D, xã K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Ninh Bình đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn T1 và giao các tài liệu chứng cứ theo đề nghị của nguyên đơn, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà Đinh Thị L là mẹ đẻ anh T1, bà L nhận các văn bản tố tụng của Toà và cam kết sẽ có trách nhiệm giao ngay tận tay cho anh T1 những văn bản tố tụng của Toà án. Bản thân anh T1 cũng đã biết việc chị T khởi kiện xin ly hôn với anh nhưng anh T1 không có mặt làm việc tại Tòa án và cũng không có văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời không có quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Con chung của chị T và anh T1 là cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017 tại biên bản lấy ý kiến ngày 23 tháng 6 năm 2026 nguyện vọng cháu P muốn ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
1. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành và thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144 khoản 4 Điều 147 và §iÒu 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
- Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn T1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung.
- Án phí: Đinh Thị T nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Đinh Thị T có đơn khởi kiện về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Văn T1 có nơi cư trú tại: Xóm H D, xã K, tỉnh Ninh Bình. Nay là: thôn D, xã K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Ninh Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị T và vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T1. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T1 vắng mặt lần 2 không có lý do. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T và Nguyễn Văn T1 có Đăng ký kết hôn tự nguyện ngày 04/02/2017 tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nay là xã K, tỉnh Ninh Bình. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về làm ăn sinh sống cùng gia đình anh T1 tại xóm H D, xã K cũ. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hoà hợp, mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nhưng không có biện pháp khắc phục. Tài liệu trong hồ sơ thể hiện tháng 9 năm 2025 chị T đã có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh T1, Quá trình giải quyết vụ án Toà án hoà giải động viên chị T đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ đồng thời cho anh chị cơ hội hàn gắn tình cảm, tuy nhiên thời gian sau đó anh chị cũng không có biện pháp nào đề khắc phục mâu thuẫn. Thực tế thì chị T, anh T1 đã sống ly thân nhau gần bốn năm nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, khi Tòa án tiến hành các thủ tục tiếp cận công khai chứng cứ đồng thời hòa giải để chị T, anh T1 có điều kiện gặp nhau và có biện pháp khắc phục mâu thuẫn và tạo cơ hội cho anh chị về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng anh T1 không tham gia hòa giải, điều đó thể hiện thái độ bỏ mặc anh T1 không thiện trí trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được. Như vậy hôn nhân của anh chị chỉ tồn tại trên danh nghĩa và đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K thể hiện: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Đinh Thị T có Đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nay là xã K, tỉnh Ninh Bình. Chị T và anh T1 chung sống với nhau đến khoảng năm 2021 thì chị T về nhà bố mẹ đẻ chị T ở đồng thời anh chị sống ly thân nhau, qua nắm bắt tại chính quyền cơ sở thì được biết chị T và anh T1 mâu thuẫn là do vấn đề làm ăn kinh tế khó khăn, công việc mỗi người một nơi, phong cách sống vợ chồng không hoà hợp, Nay chị T xin ly hôn anh T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung anh chị có một con chung cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017. Hiện cháu P đang ở cùng với chị T. Do anh chị đều là lao động tự do và ở những khu vực khác nhau nên UBND xã không xác định được mức thu nhập của các bên đương sự.
Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng không thể khắc phục được, anh chị đã có thời gian sống ly thân nhau bốn năm nay và không có biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Chị T và anh T1 có một con chung là cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017. Hiện cháu P đang ở cùng chị T. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu các bên đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh mức thu nhập hàng tháng và điều kiện chăm sóc con chung để làm căn cứ xác định điều kiện và khả năng chăm sóc giáo dục con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn. Bị đơn không cung cấp được bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho mức thu nhập của bản thân. Bị đơn cũng không có quan điểm ý kiến về vấn đề giao con sau khi ly hôn. Qua tham khảo ý kiến, nguyện vọng của con chung thì cháu P muốn ở với mẹ, thực tế thời gian anh chị sống ly thân bốn năm thì cháu P do chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay để không làm ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của con chung khi bố mẹ ly hôn và không làm thay đổi môi trường sống, học tập của con chung nên giao cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Do chị T không yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung, bản thân chị T xác định mình đó đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi dưỡng và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu P. Xét không yêu cầu cấp dưỡng đối với con của chị T hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật. Do vậy nay không buộc anh T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu P cũng vẫn đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu đồng thời cũng phù hợp với với điều 82, 83 Luật Hôn nhân nhân gia đình và phù hợp với thực tế điều kiện nuôi dưỡng con của các bên đương sự.
Về con riêng: chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh T1 không có tài sản chung và công nợ nên nay ly hôn chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 144, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Đinh Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Văn T1. (Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)
2. Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 10 tháng 11 năm 2017 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Anh Nguyễn Văn T1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung và anh T1 có quyền đi lại thăm nom con chung.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về con riêng: Chị T và anh T1 không có con riêng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T, anh T1 không có tài sản chung và công nợ chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị Đinh Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001441 ngày 10 tháng 04 năm 2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4, Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình. - VKSND khu vực 4 – Ninh Bình. - Phòng THADS khu vực 4 – Ninh Bình. - UBND xã K, tỉnh Ninh Bình. - Đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Khanh |