vanban.org

Bản án 39/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị T 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Giao bị cáo Hồ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Hồ Thị T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt tù; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯỚNG HOÁ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày: 27 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lan và bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Đức Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 13/6/2025, đối với bị cáo:

Hồ Thị T, sinh năm 1993 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn SP, xã HL, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Vân Kiều; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn C, sinh năm 1970 và bà Hồ Thị T, sinh năm 1972; Có chồng là Hồ Văn T, sinh năm 1995 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú”; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị T: Ông Lê Đình Minh N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

- Bị hại: Bà Hồ Thị K, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn CB, xã HL, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Hồ Văn N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn CB, xã HL, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

+ Chị Hồ Thị S, sinh năm 2005; Địa chỉ: Thôn SP, xã HL, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Lê Thu T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn T, xã HT, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Hồ Quốc P, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khối D, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Thị T và chị Hồ Thị K là nhân viên cấp dưỡng của điểm trường Mầm non Cù Bai, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Quá trình làm việc cùng nhau, T theo dõi và biết được mật khẩu điện thoại di động của chị K là “0502” và mật khẩu tài khoản ngân hàng của chị K là “Hothikiem”. Khoảng đầu tháng 12/2024, T biết trong tài khoản của chị K nên nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại di động của chị K để chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/12/2024, quan sát thấy chị K đang rửa xe ở sân trường mầm non Cù Bai còn T đang sơ chế thực phẩm trong nhà bếp của trường, T thấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám (có ốp lưng trong suốt) của chị K đang để trên nóc tủ lạnh đựng thực phẩm để ở nhà bếp nên nảy sinh ý định và trộm cắp điện thoại di động và cất giấu trong áo mưa của mình rồi lấy xe mô tô chạy về nhà. Khi về đến nhà, T gọi điện thoại cho chị Hồ Thị S là người bà con đang làm công nhân tại tỉnh Bình Phước và nói “Tí nữa chị chuyển tiền em nhận được chuyển lại cho chị”, chị S đồng ý. T sử dụng điện thoại di động của chị K chuyển tiền từ số tài khoản 3907205170756 của chị K mở tại ngân hàng Agribank đến số tài khoản 107881005234 của Hồ Thị S mở tại ngân hàng Vietinbank tổng cộng 02 lần, lần thứ nhất chuyển 10.000.000 đồng, lần thứ 02 chuyển 4.000.000 đồng với nội dung chuyển tiền “LE THI HOANG YEN chuyen tien”. Sau khi chị S nhận được tiền đã chuyển lại số tiền 14.000.000 đồng vào số tài khoản 3907205171628 của Hồ Thị T mở tại ngân hàng Agribank (Chị S không biết số tiền đó do T trộm cắp mà có).

Sáng ngày 10/12/2024, T đến quán của anh Hồ Văn N ở thôn Cù Bai, xã Hướng Lập nhờ rút tiền mặt. T dùng điện thoại di động của mình chuyển vào số tài khoản 3907205218614 của anh Nam mở tại ngân hàng Agribank số tiền 10.000.000 đồng, anh Nam lấy tiền phí 100.000 đồng còn đưa cho T 9.900.000 đồng, còn lại 4.000.000 đồng trong tài khoản của T.

Sau khi nghe mọi người bàn tán việc chị K bị mất điện thoại di động và tiền, lo sợ bị phát hiện nên T mượn của chị Hồ Thị Châu là em gái của T số tiền 4.000.000 đồng nhằm mục đích trả lại điện thoại và tiền cho chị K. Đến tối ngày 11/12/2024, T đến điểm trường mầm non Cù Bai và bỏ điện thoại của chị K cùng số tiền 14.000.000 đồng vào thùng gạo trong nhà bếp của nhà trường rồi ra về. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/12/2024, chị Hồ Thị K đến nhà bếp điểm trường mầm non Cù Bai để làm việc thì phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám của mình và số tiền 14.000.000 đồng trong thùng gạo ở trong nhà bếp của trường nên trình báo cơ quan chức năng.

Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hướng Hoá kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu xám, dung lượng 64GB, imei 1: 358688096263405, imei 2: 35868809626340, đã qua sử dụng, trị giá 2.950.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTS ngày 25/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hướng Hoá kết luận: 01 ốp mặt sau điện thoại bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng trị giá 30.000 đồng.

Quyết định trưng cầu giám định số 70/QĐ-ĐTTH ngày 17/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa về dấu vết đường vân trên điện thoại di động bị trộm cắp với danh chỉ bản của Hồ Thị T và Lê Thị Hoàng Y.

Kết luận giám định số 328/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Trên bề mặt mẫu vật gửi đến giám định phát hiện có dấu vết đường vân, nhưng đường vân bị mờ nhòe, không đủ cơ sở giám định so sánh truy nguyên.

Quá trình điều tra đã tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Tạm giữ của Hồ Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ và trả lại cho chị Hồ Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, imei 1: 358688096263405, imei 2: 35868809626340, có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng và số tiền 14.000.000 đồng.

- Tạm giữ và trả lại cho chị Lê Thị Hoàng Y 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, có ốp lưng bằng nhựa trong suốt.

Bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-HH ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hồ Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Hồ Thị K đã nhận lại đủ tài sản bị mất, không yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng của bị cáo Hồ Thị T.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Thị T phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị T từ 03 tháng đến 05 tháng cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi bị truy tố:

Lời khai của bị cáo Hồ Thị T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/12/2024, bị cáo Hồ Thị T đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 của chị Hồ Thị K để trên nóc tủ lạnh đựng thực phẩm để ở nhà bếp điểm trường mầm non Cù Bai, xã Hướng Lập. Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hướng Hoá kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu xám, dung lượng 64GB, imei 1: 358688096263405, imei 2: 35868809626340, đã qua sử dụng, trị giá 2.950.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt điện thoại di động của chị Hồ Thị K, do biết được mật khẩu điện thoại di động và mật khẩu tài khoản ngân hàng của chị K, bị cáo T đã dùng điện thoại di động của chị K thực hiện 02 lần giao dịch chuyển tiền từ số tài khoản 3907205170756 của chị K mở tại ngân hàng Agribank đến số tài khoản 107881005234 của Hồ Thị S mở tại ngân hàng Vietinbank, lần thứ nhất chuyển 10.000.000 đồng, lần thứ 02 chuyển 4.000.000 đồng với nội dung chuyển tiền “LE THI HOANG YEN chuyen tien”. Sau khi chị S nhận được tiền đã chuyển lại số tiền 14.000.000 đồng vào số tài khoản 3907205171628 của Hồ Thị T mở tại ngân hàng Agribank. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt của bị hại chị Hồ Thị K là 16.980.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Hồ Thị T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thị T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là lao động chính trong gia đình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại chị Hồ Thị K đã nhận lại đủ tài sản bị trộm cắp, bị cáo có nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt tù, cho hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp.

Bị cáo Hồ Thị T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” nhưng bị xử phạt tù cho hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Bị hại chị Hồ Thị K đã nhận lại đủ tài sản bị trộm cắp gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu xám, dung lượng 64GB, imei 1: 358688096263405, imei 2: 35868809626340, đã qua sử dụng và số tiền 14.000.000 đồng, chị K không có yêu cầu bồi thường gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hồ Văn Nam và chị Hồ Thị S không có yêu cầu gì nên không giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra đã tạm giữ và trả lại cho: Chị Hồ Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, imei 1: 358688096263405, imei 2: 35868809626340, có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng và số tiền 14.000.000 đồng; chị Lê Thị Hoàng Y 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng là đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Hồ Thị T sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh của mình để liên lạc với chị Hồ Thị S để chuyển tiền trộm cắp của chị Hồ Thị K vào tài khoản của chị S và chuyển tiền từ tài khoản của bị cáo T vào tài khoản của anh Hồ Văn Nam để anh Nam đưa tiền mặt cho bị cáo. Bị cáo đã sử dụng điện thoại di động của mình làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Các vấn đề khác:

Đối với chị Hồ Thị S, anh Hồ Văn N khi nhận, chuyển tiền cho Hồ Thị T nhưng không biết số tiền đó do T phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Hồ Thị T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị T 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025).

Giao bị cáo Hồ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hướng Lập trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo Hồ Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, mặt phía sau lưng điện thoại có nhiều vết nứt, vỡ, đã qua sử dụng của bị cáo Hồ Thị T.

Vật chứng cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Hồ Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ