vanban.org

Bản án 39/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 24(Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án. 2 Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ18(Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 39/2024/HSST
Ngày: 27-6-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà: Nguyễn Thị Tài

- Bà: Đỗ Thị Thƣơng Huyền

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Việt Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST- QĐ đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Trọng L, Tên gọi khác: không; Sinh ngày 18/10/ 1970 tại Hà Tĩnh. NKTT và chỗ ở: Số 117/19/4, đường Huỳnh Thúc Kháng, tổ 3, phường 2, thành phố Bảo X, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Trọng Nhung (Sn: 1927, đã chết); Con bà: Lê Thị Viên (sn: 1927, đã chết). Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình;

Vợ: Đường Thị Mai (Sn: 1974), hiện sống tại Tổ 3, phường 2, thành phố Bảo X, tỉnh Lâm Đồng. Con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1995 nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/3/2024 cho đến nay tại phường 2, thành phố Bảo X, tỉnh Lâm Đồng

2/. Họ và tên: Trần Xuân Đ- Tên gọi khác: không; Sinh ngày 26/11/ 1973 tại Hà Tĩnh. NKTT và chỗ ở: Thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Trần Văn Huy (Sn: 1945); Con bà: Đinh Thị Lý (sn: 1945), hiện sống tại Thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Gia đình bị cáo có 10 anh chị, em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thúy K (Sn: 1981, hiện đã ly thân), hiện sống tại thành phố Bảo X, tỉnh Lâm Đồng. Con: có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2002 nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/11/2023 cho đến nay tại thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

3/. Họ và tên: Nguyễn Văn T- Tên gọi khác: không; Sinh ngày 28/12/1970 tại Nam Định. NKTT và chỗ ở: Thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Nguyễn Văn Hiền (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Mừng (đã chết). Gia đình bị cáo có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ 8 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Bích Loan (Sn: 1982), hiện sống tại Thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Con: có 03 người con lớn nhất sinh năm 2000 nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/11/2023 cho đến nay tại thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bào chữa của bị cáo Nguyễn Trọng L: Luật sư Nguyễn Đăng Long- Thuộc công ty Luật TNHH Lưu Trang- Đoàn luật Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Số 29/19, đường Đoàn Thị Điểm, phường 1, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ? Số 6B, đường Phạm Hùng, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt

* Bị hại:

Ông K’ N, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Có mặt

*Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông K’ L(K’ Giang), sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt

2. Ông K’ B, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt

3. Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt

4. Ông Trần Văn L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Trọng L làm nhân viên bán xăng dầu cho Công ty xăng dầu Phương Nam ở thôn 16, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian làm việc ở đây, có bị cáo Trần Xuân Đthường hay đến mua xăng dầu nên quen biết với Lưu.

Vào khoảng 16h00' ngày 31/01/2018, bị cáo Đường mời Lưu, Nguyễn Văn Tđến nhà của Đường ở thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng ăn nhậu. Trong quá trình nhậu, Lưu biết Đường, Thảo biết cưa cắt cây nên nói trong gần vườn của gia đình Lưu ở thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L có cây gỗ Trắc và rủ Đường, Thảo cưa bán lấy tiền thì Đường, Thảo đồng ý. Cả 3 người thống nhất đi cắt cây gỗ Trắc vào ngày 01/02/2018, nếu cắt được cây gỗ Trắc, Đường sẽ chịu trách nhiệm bán gỗ và chia đều tiền cho Lưu, Đường và Thảo.

Đến khoảng 06h00' ngày 01/02/2018, Đường mang theo 01 cưa máy, 01 cuốc chim rồi điều khiển xe mô tô biển số 49H1 – 0888.81 đến nhà Thảo ở thôn 10, xã Lộc Nam, huyện Bảo L. Thảo mang theo 01 xà bách; 01 xà beng điều khiển xe mô tô ( không biển số) chở theo con gái Nguyễn Thị Ngọc Nhung (sinh năm 2009) cùng Đường đi vào vị trí cây gỗ Trắc mà Lưu đã chỉ dẫn trước đó ở thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Đến nơi, bị cáo Đường, Thảo thay nhau cưa cắt cây gỗ Trắc thành nhiều đoạn có chiều dài khác nhau lăn xuống vườn. Sau đó, cả hai đào gốc cây gỗ Trắc. Đến khoảng 09h00 ngày 01/02/2018, Đường gọi điện cho vợ là Nguyễn Thị Thúy K nói mang “thuổng” vào rồi Kiều đi về. Còn cháu Nhung thì chơi xung quanh khu vực này.

Khoảng chiều ngày 01/02/2018, Lưu điện thoại cho Đường hỏi: “Cắt thế nào rồi (ý là cắt cây gỗ Trắc)?” thì Đường trả lời “Cắt được một ít rồi”. Lưu nói “Cắt xong thì dọn dẹp vườn cho người ta đàng hoàng” rồi tắt máy.

Sau đó, bị cáo Thảo, Đường chở 05 đoạn gỗ trắc và cháu Nhung về nhà Thảo ăn cơm. Khoảng 18h00' ngày 01/02/2018, Đường điện thoại thuê K'Lãi và K'Lovyang (tên khác là K'Giang) vào bốc gỗ thì cả hai đồng ý. Đến 19h30' cùng ngày K'Lovyang và K'Lãi đi xe mô tô đến xã Lộc Nam thì Đường ra dẫn vào nhà Thảo rồi cả 4 người đi 3 xe mô tô ( Đường và Thảo đi chung một xe; K'Lãi, K'Lovyang mỗi người đi một xe) đến vị trí cây gỗ Trắc để tiếp tục chuyển các đoạn cây gỗ Trắc về nhà Thảo.

Về phía gia đình ông K'Nhiễu: Vào khoảng 16h00' ngày 01/02/2018 bà Ka M'Hím (vợ ông K'Nhiễu) đi làm về phát hiện cây gỗ Trắc bị cưa hạ nên về nói cho ông K'Nhiễu biết. Khoảng 20h00 cùng ngày ông K'Nhiễu huy động K'Wen, K'Róc và nhiều người đi vào vườn thì phát hiện nhóm Thảo, Đường, K'Lovyang và K'Lãi đang vác gỗ nên truy hô giữ được Thảo cùng 03 xe máy và 23 đoạn gỗ Trắc. Riêng Đường, K'Lovyang và K'Lãi bỏ chạy thoát.

Sau khi bỏ chạy thoát, Đường điện thoại cho Lưu nói “Anh vào giúp em chứ em bị bắt xe rồi?”. Lưu hỏi vị trí và nói Đường đi đến cây xăng gần cầu Cống Ngầm của xã Lộc Nam đợi, rồi Lưu đi xe máy từ cây xăng Phương Nam đến gặp Đường. Bị cáo Đường dẫn Lưu đi xuống nhà ông K'Nhiễu thấy K'Lovyang và K'Lãi cũng đến. Bị cáo Lưu vào xin lỗi gia đình ông K'Nhiễu nhưng ông K'Nhiễu không đồng ý và báo vụ việc đến Công an xã Lộc Nam rồi nhờ K'Wen, K'Róc chở Lưu lên Công an xã Lộc Nam làm việc. Khi ở công an xã Lộc Nam, Lưu viết bản tường trình xong thì lấy lý do không đủ sức khỏe và tự ý bỏ đi về.

Công an xã Lộc Nam tiếp nhận vụ việc và tạm giữ: 28 đoạn gỗ Trắc gồm 23 đoạn gỗ Trắc thu tại vườn ông K'Nhiễu và 05 đoạn gỗ Trắc thu tại nhà Thảo (có bảng kê lâm sản chi tiết); 01 xe mô tô biển số 49H1 - 088.81; 01 đầu cuốc chim bằng kim loại, màu nâu, bị gỉ sét, có 2 đầu được mài sắc, dài 25cm, chỗ rộng nhất 7,5cm, chỗ hẹp nhất 3,5cm của Trần Xuân Đường; 01xe mô tô không có biển số, số mày 20295832, số khung 10001409923 của Nguyễn Văn Thảo; 01 xe mô tô hiệu Daehan, không có biển số, số máy 0006001, không có số khung của K'Lovyang. Sau đó, Công an xã Lộc Nam chuyển tin báo và vật chứng đến Công an huyện Bảo L để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại biên bản xác định chủng loại và khối lượng gỗ bị cưa hạ ngày 13/3/2018 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L và Hạt kiểm lâm huyện Bảo L xác định: cây gỗ của gia đình ông K'Nhiễu bị Đường, Thảo cưa hạ vào ngày 01/02/2018 là gỗ Trắc, nhóm I. Tổng khối lượng 28 đoạn (lóng) gỗ Trắc là 1,672m³. Đối với phần gốc, rễ có khối lượng là 0,407m³.

Kết quả xác định hiện trường ngày 08/02/2018 và ngày 13/3/2018 của cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L: Vị trí cây gỗ Trắc bị cưa cắt vào ngày 01/2/2018 có tọa độ X: 510811 - Y: 1262267 nằm trong vườn cà phê, chè, sầu riêng của gia đình ông K'Nhiễu, đã được UBND huyện Bảo L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N460926 ngày 25/12/1998. Cây gỗ Trắc này không có trong hồ sơ kiểm kê thuộc diện quản quản lý của Hạt kiểm lâm huyện Bảo L và Ban lâm nghiệp xã Lộc Nam. Tại hiện trường còn có 01 gốc cây gỗ Trắc đường kính 0,72m, chiều cao 01m, bị cắt gần hết phần rễ. Ngoài ra, tại vườn của ông K'Nhiễu bị thiệt hại, đổ, gãy do việc cưa cắt cây gỗ Trắc gồm: Có 15 cây chè hạt loại C trên 10 năm tuổi bị thiệt hại 50%; 05 cây cà phê Robusta, loại C trên 4 năm tuổi, bị thiệt hại 50%.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 15/3/2018 và số 65 ngày 14/7/2023 cùng với Công văn số 22 ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố hình tụng hình sự huyện Bảo L kết luận: giá trị của 1,672m² gỗ Trắc, nhóm I là 40.428.960 đồng; Giá trị thiệt hại của 15 cây chè hạt loại C trên 10 năm tuổi bị thiệt hại 50% là 153.750 đồng; Giá trị thiệt hại của 05 cây cà phê Robusta, loại C trên 4 năm tuổi, bị thiệt hại 50% là 442.500 đồng; 0,407m³ gỗ Trắc (chất lượng gỗ loại A, tại bãi tập trung), thời điểm định giá ngày 01/02/2018 là 9.841.260 đồng. Tổng trị giá tài sản cây gỗ Trắc là 50.270.220 đồng.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Trần Xuân Đương, Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn Trọng L về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên nội dung như Cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 15 đến 18 tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Ttừ 12 tháng đến 15 tháng tù;

Hình phạt bổ sung: không đề nghị.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng L trình bày:

Về hành vi phạm tội và tội danh trộm cắp tài sản cũng như thái độ của bị cáo Lưu thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải người bào chữa không ý kiến gì.

Riêng về việc định giá tài sản bị chiếm đoạt thì Người bào chữa không đồng ý, về giá trị 28 đoạn gỗ trắc có khối lượng là1,672m3, nhóm I là 40.428.960 đồng thì không ý kiến gì. Đối với định giá khối lượng gốc rễ của cây gỗ trắc 0,407m³ gỗ Trắc (chất lượng gỗ loại A, tại bãi tập trung), thời điểm định giá ngày 01/02/2018 là 9.841.260 đồng thì người bào chữa không đồng ý. Vì căn cứ Định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bảo L được căn cứ vào Quyết định số 2566/ QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng thì tính gốc rễ của cây gỗ trắc bằng giá trị thân gỗ là không chính xác mà cần tính theo mục 4 phụ lục đính kèm quyết định chỉ bằng 50% giá gỗ tròn lớn, do vậy giá trị tài sản bị chiếm đoạt chưa đủ 50.000.000 đồng thì hành vi của bị cáo Lưu chỉ ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy người bào chữa đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để định giá lại tài sản, hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung để đưa ra giá trị đúng của Kết luận định giá tài sản số 65/KL- HĐĐGTS ngày 17/3/2023.

Kiểm sát viên tranh luận: Việc thực hiện quá trình thu giữ, lập biên bản tang vật, xác định tài sản bị chiếm đoạt của Cơ quan tiến hành tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật cũng như việc định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo L là đúng giá trị. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 01 cây gỗ nguyên cây, còn đang sinh trưởng chứ không phải cây gỗ đã bị cưa hạ, mục rỗng, hay tận thu. Ý chí chiếm đoạt của các bị cáo là cả cây gỗ thì gốc rễ đến ngọn tình giá ngang nhau, giá trị thực tế của cây gỗ trắc rất lớn nên việc xác định giá trị từ gốc đến ngọn theo giá trị chủng loại gỗ là 24.180.000 đồng là hoàn toàn chính xác, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị cáo mà giá trị nêu trên đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Trọng L thống nhất như bản luận cứ bào chữa của người bào chữa.

- Các bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tthừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp với lời khai của các bị cáo, không tranh luận gì với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

- Chủ tọa công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi phạm tội là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, tài liệu thu giữ trong hồ sơ thể hiện: Vì mục đích tư lợi, vào chiều tối ngày 31/01/2018, tại nhà của bị cáo Trần Xuân Đở thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Nguyễn Trọng L cùng Trần Xuân Đvà bị cáo Nguyễn Văn Tbàn nhau, thống nhất cưa cắt trộm cây gỗ Trắc của gia đình ông K'Nhiễu thuộc thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo L bán lấy tiền chia nhau. Đến ngày 01/02/2018, bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tđã cưa cắt được cây gỗ Trắc của gia đình ông K'Nhiễu và đang vận chuyển gỗ về nhà của bị cáo Thảo thì bị gia đình ông K'Nhiễu phát hiện, báo Công an xã Lộc Nam bắt giữ người cùng vật chứng.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 15/3/2018 và số 65 ngày 14/7/2023 và Công văn số 22/HĐ ĐG TS ngày18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố hình tụng hình sự huyện Bảo L kết luận: giá trị của 1,672m3 gỗ Trắc, nhóm I là 40.428.960 đồng; Giá trị thiệt hại của 15 cây chè hạt loại C trên 10 năm tuổi bị thiệt hại 50% là 153.750 đồng; Giá trị thiệt hại của 05 cây cà phê Robusta, loại C trên 4 năm tuổi, bị thiệt hại 50% là 442.500 đồng; 0,407m³ gỗ Trắc (chất lượng gỗ loại A, tại bãi tập trung), thời điểm định giá ngày 01/02/2018 là 9.841.260 đồng. Tổng trị giá tài sản cây gỗ Trắc là 50.270.220 đồng.

Hành vi của các bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tđã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLHS như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tđã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu về tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy xét thấy cần thiết phải áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, đủ để giáo dục, răn đe, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự ; Các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tđã bồi thường thiệt hại, được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Lưu có cha đẻ được tặng Huy chương kháng chiến nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Quá trình điều tra xác định được vai trò của các bị cáo như sau:

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy rằng bị cáo Nguyễn Trọng L là chủ mưu, xúi giục, chỉ dẫn các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã chỉ dẫn các bị cáo Trần Xuân ĐNguyễn Văn Ttrộm cắp để chia nhau. Còn các bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tthực hành tích cực hành vi trộm cắp.

Nên cần xem xét áp dụng hình phạt của bị cáo Lưu nghiêm khắc hơn các bị cáo Đường, Thảo tuy nhiên cũng cần xem xét các bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tđã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại (Bị cáo Nguyễn Trọng L đã nộp số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường cùng bị cáo Đường và bị cáo Thảo), được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cũng cần căn nhắc cho các bị cáo hình phạt đủ nghiêm khắc, mang tính chất răn đe, cải tạo và giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng L thì HĐXX nhận thấy việc đánh giá, giá trị tài sản bị chiếm đoạt của các bị cáo theo Bản Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 15/3/2018 và số 65 ngày 14/7/2023 và Công văn số 22/HĐ ĐG TS ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố hình tụng hình sự huyện Bảo L kết luận: giá trị của 1,672m3 gỗ Trắc, nhóm I là 40.428.960 đồng; 0,407m³ gỗ Trắc (chất lượng gỗ loại A, tại bãi tập trung), thời điểm định giá ngày 01/02/2018 là 9.841.260 đồng. Tổng trị giá tài sản cây gỗ Trắc là 50.270.220 đồng là đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện các thủ tục tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng không bị các bị cáo khiếu nại, các bị cáo cũng khẳng định không bị ai ép cung, mớm cung nên quy trình xác định giá trị tài sản chiếm đoạt là đúng. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt là cả nguyên cây gỗ trắc đang trong thời kì sinh trưởng và phát triển, không phải cây gỗ chết, mục rỗng, hay cưa cắt rời từng bộ phận để áp giá từng bộ phần của cây là không phản ánh đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm ảnh hưởng đến việc đánh giá hành vi phạm tội cũng như giá trị thiệt hại cho bị hại. Việc xác định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố hình tụng hình sự huyện Bảo L là chính xác. Do vậy HĐXX không hoãn phiên tòa cũng như không trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là chưa phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo cũng như ý thức của các bị cáo tại phiên tòa, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn đủ để răn đe, phòng ngừa riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tđã bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Riêng số tiền 20.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Trọng L đã nộp để góp tiền bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa bị cáo Đường, Thảo đồng ý chia đều số tiền bồi thường, bị cáo Lưu trả lại cho hai bị cáo, xét thấy việc thỏa thuận là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm nên cần trả lại cho bị cáo Trần Xuân Đsố tiền 10.000.000 đồng, trả cho bị cáo Nguyễn Văn Tsố tiền 10.000.000 đồng (theo giấy nộp tiền ngày 09/4/2024 người nộp tiền Nguyễn Trọng L tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L), tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L đã trả lại 28 đoạn gỗ Trắc (1,672m³) và phần gốc cây gỗ Trắc cho gia đình ông K'Nhiễu; 01 xe mô tô biển số 49H1 - 088.81 cho Trần Xuân Đường. Do vậy HĐXX không xem xét đến.

Đối với 01 cái xà bách cán bằng gỗ dài khoảng 1,6m; lưỡi bằng sắt dài khoảng 30cm, rộng khoảng 17cm; 01 cái xà beng bằng sắt phi 24, xoắn, dài 1,6m, đường kính khoảng 03cm, 01 đầu nhọn, 01 đầu bè. Ngày 17/10/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Do vậy HĐXX không xem xét đến.

Đối với 01 máy cưa xăng cầm tay, thường để ở ngoài xe máy cày (để cho mọi người quen khi cần thì mượn) của anh Trần Văn L, sau khi cưa xong gỗ Đường đã trả lại cho anh Linh. Đây là tang vật của vụ án nhưng là tài sản hợp pháp của anh Linh, anh Linh không biết bị cáo Đường sử dụng vào việc bất hợp pháp nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 đầu cuốc chim bằng kim loại, màu nâu, bị gỉ sét, có 2 đầu được mài sắc, dài 25cm, chỗ rộng nhất 7,5cm, chỗ hẹp nhất 3,5cm Trần Xuân Đường; 02 phần thân cây, 01 phần vỏ cây là tang vật của vụ án và những đồ vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô không có biển số, số máy 20295832, số khung 10001409923 của Nguyễn Văn Thảo; 01 xe mô tô hiệu Daehan, không có biển số, số máy 0006001, không có số khung của K'Lovyang, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L tiếp tục điều tra, xác minh và giải quyết theo thẩm quyền.

Trong vụ án, đối với Nguyễn Thị Thúy K (vợ Đường) có hành vi mang công cụ “thuổng” cho Đường; K'Lovyang và K'Lãi đi bốc vác thuê gỗ cho Đường, Thảo; Nguyễn Thị Ngọc Nhung (con gái Thảo) đi cùng Thảo chơi ở khu vực cắt cây gỗ, nhưng đều không biết hành vi phạm tội của Lưu, Đường, Thảo, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L không xử lý đồng phạm trong vụ án là đúng quy định, do vậy HĐXX không đề cập đến.

Đối với việc cưa cắt cây gỗ Trắc của các bị cáo làm hư hại đến các cây chè hạt, cà phê robusta với tổng số tiền là 596.250 đồng, chưa đến truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 điều 178 BLHS và đã hết thời hiệu xử phạt hành chính, nên cơ quan CSĐT không xử lý hành chính đối với hành vi này là phù hợp, do vậy, HĐXX không đề cập đến.

Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật hình sự;

1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 24(Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự;

1.2 Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ18(Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.

1.3 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T18(Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị cáo Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tmỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án (Đối với số tiền 20.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Trọng L nộp tại giấy nộp tiền ngày 09/4/2021 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: Đối với 01 đầu cuốc chim bằng kim loại, màu nâu, bị gỉ sét, có 2 đầu được mài sắc, dài 25cm, chỗ rộng nhất 7,5cm, chỗ hẹp nhất 3,5cm Trần Xuân Đường; 02 phần thân cây, 01 phần vỏ cây.

- Chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L tiếp tục điều tra, xác minh và giải quyết theo thẩm quyền: Đối với 01 xe mô tô không có biển số, số máy 20295832, số khung 10001409923 của Nguyễn Văn Thảo; 01 xe mô tô hiệu Daehan, không có biển số, số máy 0006001, không có số khung của K'Lovyang.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Trọng L, Trần Xuân Đường, Nguyễn Văn Tmỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

(Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan). HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tài Đỗ Thị Thƣơng Huyền

Trần Thị Hà Vi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng (2);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND huyện Bảo L;

- Chi cục THADS H Bảo L;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Trần Thị Hà Vi

- Lưu hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tài Nguyễn Ry

Trần Thị Hà Vi

Cỡ chữ