vanban.org

Bản án 39/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 khoản 4 Điều 341; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt Bùi Xuân T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. [2.1] Giao bị cáo Bùi Xuân T cho Ủy ban nhân dân thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu củ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 21-2-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai-Ông Lê Đình Hiệp

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Oanh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 đối bị cáo:

Bùi Xuân T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24/12/2000, tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Bùi Quốc H và bà: Đào Thị H1; vợ , con: chưa; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có giấy phép lái xe, bận công việc nên không có thời gian đi học và thi để có Giấy phép lái xe (viết tắt GPLX) nên khoảng đầu tháng 12 năm 2020 Bùi Xuân T sử dụng mạng facebook tìm mua GPLX giả mục đích xuất trình trốn tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng khi tham gia giao thông. Trà sử dụng tài khoản facebook tìm và liên hệ với người dùng tài khoản có tên “Trung tâm cấp bằng lái xe uy tín” thỏa thuận mua GPLX với giá 1.500.000 đồng, trả tiền khi người giao hàng đưa GPLX. Sau khi thống nhất thỏa thuận, Trà gửi ảnh chân chung, ảnh chứng minh nhân dân của mình cho tài khoản trên, khoảng 10 ngày sau Trà được một người giao hàng liên hệ đưa 01 GPLX giả, hạng A2 số 190204008870 ghi tên Bùi Xuân T bằng hình thức ship COD (chuyển hàng và thu tiền hộ). Nhận được GPLX, Trà xóa toàn bộ thông tin liên lạc, giao dịch liên quan đến tài khoản “Trung tâm cấp bằng lái xe uy tín” đồng thời sử dụng GPLX trên để xuất trình khi tham gia giao thông từ năm 2020.

Khoảng 09 giờ ngày 03/6/2023, Bùi Xuân T điều khiển xe mô tô BKS 20E1-382.00 đi trên đường Q hướng từ huyện P đi Trung tâm Thành phố T, khi đi đến đoạn đường thuộc phường T, T điều khiển xe mô tô chạy quá tốc độ nên bị tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông, trật tự Công an Thành phố T đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe và xuất trình giấy tờ để xử lý theo quy định. Quá trình kiểm tra, Trà xuất trình 01 GPLX hạng A2 số 190204008870 mang tên Bùi Xuân T do sở G cấp ngày 16/12/2020 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 20E1-382.00, thấy có ghi vấn nên Đội cảnh sát giao thông, trật tự mời T về trụ sở làm việc, quá trình làm việc Trà thừa nhận GPLX là giấy tờ giả do đó đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố T để thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.

Tại Công văn số 174/SGTVT-QLPT&NL ngày 27/9/2023 Sở G không cấp giấy phép lái xe cho người mang tên Bùi Xuân T, sinh ngày 24/12/2000, nơi cư trú thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Tại Kết luận giám định số 1078/KL-KTHS ngày 07/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Giấy phép lái xe số 190204008870 mang tên Bùi Xuân T (ký hiệu A) là giả.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSTPTN ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 khoản 4 Điều 341; Điều 38, điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân T từ 06-09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12-18 tháng tù, phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000- 10.000.000 đồng.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen thu giữ của Bùi Xuân T; Trả bị cáo 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 027968 mang tên Bùi Xuân T.

Án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí tòa án Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản sự việc, vật chứng thu giữ và Kết luận giám định. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng tháng 12 năm 2020 Trà đặt mua 01 GPLX mô tô hạng A2 mang tên Bùi Xuân T qua mạng facebook để sử dụng khi tham gia giao thông, sau khi thống nhất thỏa thuận Trà chụp ảnh chân dung, chứng minh nhân dân gửi cho người có nick facebook “Trung tâm cấp bằng lái xe uy tín”, sau 10 ngày nhận được GPLX và trả cho người giao hàng 1.500.000 đồng, sau đó sử dụng GPLX trên khi tham gia giao thông. Khoảng 9 giờ ngày 03/6/2023, T điều khiển xe mô tô BKS 20E1-382.00 đi trên Quốc lộ C hướng P đi thành phố T đến địa phận phường T do vi phạm tốc độ nên bị tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông công an thành phố T yêu cầu dừng xe kiểm tra giấy tờ và phát hiện.

Bị cáo Bùi Xuân T biết để có Giấy phép lái xe phải học và thi tại một trường hoặc cơ sở do nhà nước cấp phép, tuy nhiên bị cáo không học, không thi mà cung cấp ảnh và chứng minh nhân dân đặt mua GPLX giả để sử dụng và xuất trình khi cơ quan công an kiểm tra, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự, do đó Viện kiểm sát thành phố T truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, đến sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan, tổ chức. Hành vi của người điều khiển các phương tiện giao thông mà chưa có giấy phép lái xe là chưa đủ điều kiện để điều khiển phương tiện; là chưa đủ nhận thức về pháp luật cũng như kỹ năng lái xe, xử lý các tình huống trên đường tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông, do đó hành vi sử dụng giấy tờ giả là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến đến an ninh trật tự và xã hội vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự không cần cách ly xã hội, cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để cho bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở thành người có ý thức chấp hành pháp luật và đảm bảo tác dụng giáo dục pháp luật đối với bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng" Bị cáo nhận thức được hành vi của mình tuy nhiên vẫn mua GPLX để sử dụng, tại phiên tòa bị cáo xác định có thu nhập ổn định do đó cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nước.

Xử lý vật chứng: Đối với điện thoại thu giữ, bị cáo sử dụng vào nhắn tin trao đổi mua bán bằng giả cần tịch thu sung quỹ nhà nước, đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 027968 thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án do đó trả cho bị cáo quản lý sử dụng, đối với giấy phép lái xe giả lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các hành vi khác:

Bùi Xuân T khai mua bằng giả của một người không quen biết tên tuổi, địa chỉ qua tài khoản facebook “Trung tâm cấp bằng lái xe uy tín”, đến nay chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên chưa có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với người giao hàng cho T tại Bắc Giang, đến nay Trà không lưu giữ số điện thoại cũng như không biết tên tuổi người này nên chưa có căn cứ xem xét.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô chạy quá tốc độ quy định, ngày 03/7/2023 Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng nên hội đồng xét xử không xem xét.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 khoản 4 Điều 341; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt Bùi Xuân T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

[2.1] Giao bị cáo Bùi Xuân T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

[2.2] Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Phạt bổ sung bị cáo Bùi Xuân T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

[4]Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen Imei1: 866348054494022, Imei2: 866348054494030, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Bùi Xuân T 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 027968, BKS 20E1-382.00 mang tên Bùi Xuân T

(Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại kho của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo biên bản giao nhận số 94 lập ngày 20/02/2024).

[5] Về Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Xuân T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

[6] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Bùi Xuân T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ