- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh Th - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Th.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2024/HS-PT Ngày 22 tháng 01 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;
Các Thẩm phán:
Ông Dương Tuấn Vinh;
Ông Phan Tô Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 883/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Minh Th; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Minh Th, sinh năm 1999, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Hoàng Văn Ch; con bà Nguyễn Thị Ngọc M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2023. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị H và Luật sư Đỗ Quốc A - Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Minh Th và Nông Thế T là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Khoảng 21 giờ ngày 14/3/2023, T tới gặp và nhờ Th đi xuống thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để nhận gói đồ (T nói rõ gói đồ là ma túy đá) mang về lại cho T, Th đồng ý. Sau đó, Th hỏi mượn M (là bạn của Th) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 49G1- 551.41 rồi một mình điều khiển chạy xuống thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để nhận ma túy đá mang về cho T. Khi đang điều khiển xe mô tô đi trên đoạn đường đôi Quốc lộ 20 thuộc địa phận thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, có số điện thoại 0839343579 của một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch, chỗ ở) gọi đến số điện thoại 0903257264 của Th nói Th đến quán cà phê B, thị trấn D để lấy ma túy đang được cất giấu trong nhà vệ sinh. Khoảng 21 giờ 30 phút, Th đến quán cà phê B gặp một người nam thanh niên đi xe máy đến trước cổng quán cà phê B, người này đi thẳng ra khu vực phía sau quán cà phê B rồi mang ra một hộp giấy màu vàng và quay lại giơ tay ký hiệu cho Th đi ra hướng đường L về Quốc lộ 20, thị trấn D, huyện D. Th đi theo được khoảng 50 mét, người này đưa cho Th một hộp giấy màu vàng có kích thước 13cm x 07cm x 06cm bên trong đựng ma tuý đá, Th để trên gác ba ga phía trước của xe mô tô biển kiểm soát 49G1- 551.41 rồi đi ra Quốc lộ 20 - thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để mang ma tuý đá về cho Nông Thế T. Khi đang di chuyển đến đoạn đường đèn tín hiệu giao thông gần khu vực chợ mới thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, Th thấy lực lượng Công an tuần tra chạy phía sau, do sợ bị Cơ quan Công an bắt nên Th đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy đến khu vực đường Quốc lộ 20 thuộc tổ dân phố 18, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thì vứt hộp giấy màu vàng chứa ma tuý đá xuống mặt đường sát vỉa hè rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy, Th chạy được thêm khoảng 400 mét thì bị Cơ quan Công an yêu cầu dừng xe làm việc.
Qua làm việc với Cơ quan Công an, Th tự nguyện chỉ vị trí vứt chiếc hộp giấy màu vàng bên trong có chứa ma túy đá nêu trên cho Cơ quan Công an, đồng thời khai nhận đây là ma túy đá của Th đi nhận giúp và đang trên đường mang về giao cho Nông Thế T thì bị Cơ quan Công an bắt giữ. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Minh Th và thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy đá trong hộp giấy màu vàng nêu trên cùng một số đồ vật liên quan khác.
Ngày 16/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 42/QĐ-ĐCSMT đối với số chất nghi là ma túy đã thu giữ của Hoàng Minh Th.
Ngày 20/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng có Kết luận giám định số: 298/KL- KTHS kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 78,4244g (bảy tám phẩy bốn hai bốn bốn gam), loại Methamphetamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 76; Điều 77 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố Hoàng Minh Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Th 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2023.
Áp dụng Điều 35, khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015: Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 29/9/2023, bị cáo Hoàng Minh Th có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Minh Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời bổ sung kháng cáo xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Minh Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 16 năm tù, phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc giải quyết vụ án và bị cáo vận chuyển ma túy do nể nang, không vụ lợi gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Th làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 14/3/2023, Nông Thế T nhờ Hoàng Minh Th nhận ma túy, vận chuyển từ thị trấn D, huyện D mang về cho T; Th đồng ý. Sau khi nhận ma túy từ một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch, chỗ ở) tại quán cà phê B, thị trấn D, Th để trên gác ba ga phía trước của xe mô tô biển kiểm soát 49G1- 551.41 rồi đi ra Quốc lộ 20 - thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để mang ma tuý đá về cho Nông Thế T. Khi đang di chuyển đến khu vực chợ mới thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, Th bị lực lượng Công an tuần tra yêu cầu làm việc và phát hiện ra hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tại Kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 20/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận khối lượng ma túy Hoàng Minh Th vận chuyển là 78,4244g, loại Methamphetamine.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Minh Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, tạo điều kiện cho các đối tượng mua bán ma túy hoạt động, là nguyên nhân gây nên nhiều tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 16 năm tù, đồng thời phạt bổ sung phạt tiền 50.000.000 đồng là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chính, cũng như hình phạt bổ sung của bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hoàng Minh Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Th.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên bố Hoàng Minh Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 76; Điều 77 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Th 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2023.
Áp dụng Điều 35, khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015: Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Hoàng Minh Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1); - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng (1); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1); - Công an tỉnh Lâm Đồng (1); - Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng (2); - Lưu VP(3), HS(2).15b.LTTT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Thủy |