vanban.org

Bản án 39/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Đỗ Thị T.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Đỗ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST
Ngày 08-7-2024
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Bình,

2. Ông Vũ Đức Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 (Quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024) giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 19xx, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn (anh Nguyễn Văn P) trình bày:

Anh Nguyễn Văn P và chị Đỗ Thị T kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 09 tháng 6 năm 2022. Quá trình chung sống, anh chị sống hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không hạnh Pc. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả; anh chị đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, anh P yêu cầu được ly hôn chị T. Anh chị không có con chung; không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, yêu cầu chị T giao nộp bản tự khai, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án và triệu tập chị T đến làm việc nhưng chị T không thực hiện.

Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Anh P và chị T kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tây Hưng vào năm 2022 theo quy định. Anh chị chung sống hoà thuận với nhau được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống chung không hạnh Pc. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh P, chị T đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị không có con chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự không ai có văn bản thể hiện việc thay đổi quan điểm của minh.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia tố tụng tại Toà án, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Đỗ Thị T; anh P, chị T không có con chung, không có tài sản chung nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Anh P phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”. Chị Đỗ Thị T hiện đang cư trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (chị T) đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không chấp hành triệu tập của Toà án. Toà án đã thực hiện cấp tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng cho chị T; tạo điều kiện cho chị T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc chị T không có mặt theo giấy triệu tập, không giao nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án là tự mình từ bỏ các quyền và không chấp hành các nghĩa vụ của đương sự được quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Toà án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Toà án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn (anh P) vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn (chị T) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh P, chị T.

- Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn P và chị Đỗ Thị T được xác lập từ ngày 09 tháng 6 năm 2022 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị chung sống hoà thuận được 01 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh Pc. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng, anh P và chị T đã sống ly thân từ đầu tháng 02 năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, có đủ căn cứ xác định, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của anh P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, xử cho anh P được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh chị không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 96; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Đỗ Thị T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh P đã nộp đủ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0008944 ngày 07 tháng 03 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ