- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Nguyễn Hải N và ông Tô Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hải N đối với ông Tô Văn T về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2024 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Long Giang.
Bà Võ Thị Tổng .
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quế Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hải N, sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình; tạm trú: Nhà bà Đỗ Thị S, Ô, Lô A, đường D, tổ A, khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Tô Văn T, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình; tạm trú: Nhà bà Đỗ Thị S, Ô, Lô A, đường D, tổ A, khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt (đã được triệu tập hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 07 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Hải N trình bày:
Về hôn nhân: bà N và ông Tô Văn T có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 9 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông T có nhiều thói hư tật xấu, chơi bời, nợ nần, không chăm lo gia đình. Từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, chung sống không hạnh phúc. Vợ chồng không còn chung sống với nhau hơn 03 năm nay. Nay bà N nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này nên bà N yêu cầu ly hôn với ông T.
Về nuôi con chung: bà N và ông T có 02 con chung là cháu Tô Nguyễn Tường V, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2018 và cháu Tô Nguyễn Tuệ N1, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2020, con chung đang sống cùng bà N. Theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu được nuôi hai con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, bà N giữ nguyên yêu cầu được nuôi hai con chung nhưng không tiếp tục yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về chia tài sản và nợ chung: bà N không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tô Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng nhận định:
Về tố tụng: bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Về hôn nhân: hôn nhân của bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp. Bà N khai nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do ông T có nhiều thói hư tật xấu, không chăm lo gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chung sống không hạnh phúc; bà N và ông T không còn chung sống với nhau hơn 03 năm nay. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông T theo khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình tố tụng, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của bà N. Trên cơ sở lời khai của bà N, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định, bà N và ông T là vợ chồng nhưng đã không còn sống chung với nhau, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau là đã không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cho thấy, hôn nhân của bà N và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà N và ông T ly hôn.
Về nuôi con chung: bà N yêu cầu được nuôi hai con chung là cháu V và cháu N1 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét cháu V và cháu N1 đang sống cùng bà N, công việc, thu nhập hàng tháng của bà N ổn định. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, ông T có trách nhiệm giao hai con chung cho bà N trực tiếp nuôi theo quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về chia tài sản và nợ chung: bà N không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Về án phí: bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hải N đối với ông Tô Văn T về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Hải N ly hôn ông Tô Văn T.
Về nuôi con chung:
Ông Tô Văn T có trách nhiệm giao 02 con chung là cháu Tô Nguyễn Tường V, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2018 và cháu Tô Nguyễn Tuệ N1, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2020 cho bà Nguyễn Hải N trực tiếp nuôi. Bà Nguyễn Hải N không yêu cầu ông Tô Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Ông Tô Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu.
Về chia tài sản và nợ chung: bà Nguyễn Hải N và ông Tô Văn T không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: bà Nguyễn Hải N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Hải N đã nộp theo biên lai số 0003523 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Hải N đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng; - UBND X.Tây An, H.Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; (Giấy CNKH số 20/2016, đăng ký ngày 28/9/2015); - Đương sự; - Cổng thông tin điện tử TAND (nếu có); - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Xuyến |