- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "bà M kiện bà M1 tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2024/DS-PT Ngày 19-01-2024 V/v tranh chấp thừa kế tài sản, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung
Các Thẩm phán:
Bà Lưu Thị Mỹ Hương
Ông B i Ng c Th ch
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- i di n i n i m t nh n d n t nh nh ương tham gia phiên tòa: à Trần Thị Phư c - iểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 19 tháng 01 năm 2024, t i trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử ph c th m c ng khai vụ án dân s thụ lý số 437/2023/TLPT-DS ngày 01/11/2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân s sơ th m số 100/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 01 năm 2024, giữa các đương s :
- Nguyên đơn: à Ph m Thị M, sinh năm 1968; địa chỉ: số 953 đ i lộ Bình Dương, tổ 2, khu 9, phường HA, thành phố T, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ng Ph m Minh T1, sinh năm 1980; địa chỉ: số 12 đường D3, khu dân cư C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo các Hợp đồng ủy quyền ngày 16/01/2019 và ngày 31/12/2020), có mặt.
- Bị đơn: à Ph m Thị M1, sinh năm 1963; địa chỉ: số 77 đường D9T744, tổ 13, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho à Dương Ph m Hồng Â, sinh năm 1990; địa chỉ: số 77 đường ĐT744, tổ 13, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số 12 đường số 3, Nguyễn Văn Thuận, khu dân cư Hiệp Phát 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo các Giấy ủy quyền ngày 10/9/2019 và ngày 07/12/2020), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ph m Văn Ch, sinh năm 1952; địa chỉ: số 79 đường ĐT744, tổ 13, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Ph m Ng c S, sinh năm 1955; địa chỉ: số 97/5, tổ 12, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Bà Ph m Thị H1, sinh năm 1959; địa chỉ: số 77 đường ĐT744, tổ 13, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho à Dương Ph m Hồng Â, sinh năm 1990; địa chỉ: số 77 đường ĐT744, tổ 13, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số 12 đường số 3, Nguyễn Văn Thuận, khu dân cư Hiệp Phát 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 10/9/2019); có mặt.
4. Bà Dương Ph m Hồng Â, sinh năm 1990; địa chỉ: số 77 đường ĐT744, tổ 13, ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số 12 đường số 3, Nguyễn Văn Thuận, khu dân cư Hiệp Phát 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
5. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
6. Ông Phan Bá Hiện, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
7. Văn phòng CCBD; địa chỉ: đường NE8, khu đ thị và c ng nghiệp Mỹ Phư c 3, phường Th i Hòa, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
8. Văn phòng CCSS (nay là Văn phòng C ng chứng NVH); địa chỉ trụ s : số 1459 đ i lộ Bình Dương, khu phố 4, phường HA, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người háng cáo: nguyên đơn à Ph m Thị M và ị đơn à Ph m Thị M1.
NỘI D NG V ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2019, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 01/6/2020, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 08/12/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị M và ngƣời đại diện hợp pháp là ông Phạm Minh T1 trình bày:
Về quan hệ nhân thân: Cụ Ph m Văn Lý, chết năm 1993 (có giấy chứng tử) và cụ B i Thị Thương, chết năm: 1982 (có giấy chứng tử). Cụ Lý và cụ Thương có 05 người con là: Ph m Văn Ch, Ph m Ng c S, Ph m Thị H1, Ph m Thị M1, Ph m Thị M. Ngoài ra, cụ Lý và cụ Thương kh ng có con riêng, con nu i. Cha mẹ của cụ Lý và cụ Thương đã chết trư c 02 cụ. Cụ Lý và cụ Thương chết kh ng để l i di ch c.
Về di sản: Vào năm 1975, gia đình cụ Lý và cụ Thương chuyển về xã P, huyện (nay là thị xã) B sinh sống và được Nhà nư c cấp cho một phần đất gò và đất ruộng, diện tích khoảng 5.000m2 t i xã P. Cụ Lý và cụ Thương có cất một ng i nhà trên phần đất gò để và quản lý, sử dụng diện tích đất được cấp. Căn nhà của cụ Lý, cụ Thương hiện kh ng còn. Năm 1999, anh chị em à M thống nhất để à M1 đ i diện đứng tên t m thời đăng ký, kê khai đối v i tất cả các thửa đất của cha mẹ để l i. Sau đó Ủy an nhân dân huyện B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à Ph m Thị M1, số vào sổ 00673 QSDĐ/1469/QĐ-UB ngày 20/12/1999 v i các thửa đất số 461, 491, 175. Việc cử à M1 đứng tên đăng ký, kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kh ng được lập thành văn ản. Đến năm 2000, tất cả anh chị em thống nhất án một phần đất (khoảng 1.400m2 thuộc một phần của thửa đất số 175) v i giá trị chuyển nhượng là 14,5 lượng vàng cho ng Vinh (sau đó ng Vinh án l i cho ng Lộc). Số vàng có được chia cho mỗi người 01 lượng, số vàng còn l i anh chị em thống nhất d ng để xây mồ mả cho cha mẹ và sửa l i căn nhà cũ của cha mẹ để à M1 và bà H1 , tiện cho việc quản lý phần đất còn l i của a mẹ. Năm 2002, sau khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã án cho ng Lộc, à M1 t ý chuyển nhượng 02 thửa đất số 461 và 491 cho à Nguyễn Thị B ch Nga. Năm 2013, à M1 t ý tặng cho à Â (con ruột à M1) 01 phần diện tích đất (khoảng 500m2) thuộc thửa đất số 175. Diện tích đất tặng cho à Â được tách thành thửa đất số 2155, sau đó đã chuyển nhượng cho ng Nguyễn Văn hoa vào c ng năm 2013. Diện tích còn l i của thửa đất số 175 à M1 được cấp đổi l i thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930, ngày 01/08/2013, số thửa m i là 2156, diện tích 1.190,4m2.
Năm 2009, do cần chỗ , à M yêu cầu được tách phần đất thuộc quyền của mình thì bà M1 chỉ đồng ý tách cho à M phần đất ngang 6m, dài 50,68m coi như chia thừa kế phần tài sản chung của cha mẹ cho à M. Bà M1 đã làm thủ tục đo vẽ, tách thửa đối v i diện tích đất này. hi đang làm thủ tục chia đất cho bà M thì ông Ch yêu cầu à M1 chia cho ông Ch phần đất của cha mẹ để l i cho ông Ch v i diện tích 7m x 20m. Bà M1 kh ng đồng ý v i lý do khi còn sống cha mẹ đã chia cho ng Ch riêng một phần đất khác. Phần đất còn l i là của a chị em gồm à M1, bà M và bà H1. h ng đồng ý v i ý kiến của à M1, ông Ch đã gửi đơn kh i kiện đến Ủy an nhân dân xã P. Sau đó ng Ch và bà M1 đã thỏa thuận được v i nhau về việc chia đất nên ng Ch đã r t toàn ộ đơn kh i kiện. Tuy nhiên, đến nay à M1 vẫn chưa th c hiện việc tách thửa, chia đất cho à M, ông Ch.
Ngày 25/12/2018, hộ à M1 (gồm à M1, bà H1 và bà Â) đã chuyển nhượng cho à Nguyễn Thị L1 phần đất mà trư c đây à M1 đo đ c, tách thửa cho bà M. Diện tích chuyển nhượng cho à L1 là 400m2, giá chuyển nhượng là 3.500.000.000 đồng. Bà M1 đã nhận đủ tiền của à L1 và đang th c hiện việc tách thửa, sang tên thì à M phát hiện và ngăn cản nên hiện t i à L1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hộ à M1 t ý chuyển nhượng 400m2 cho bà L1 trong thời gian à M đang tranh chấp thừa kế v i à M1, do đó việc chuyển nhượng đất này là trái pháp luật.
Các tài sản: nhà , c ng trình phụ, cây trồng… gắn liền v i đất là tài sản riêng của à M1 t o lập, kh ng phải là di sản thừa kế nên à M không tranh chấp. Đối v i 01 ki ốt do ng S xây d ng trư c nhà của bà M1 thì bà M không có ý kiến gì. Đối v i các diện tích đất trư c đây à M1 đã chuyển nhượng cho à Nga và tặng cho à Â thì bà M kh ng tranh chấp, kh ng yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn là: biên ản hòa giải ngày 08/7/2010 và iên ản hòa giải ngày 07/01/2011 của Ủy an nhân dân xã P tiến hành hòa giải giữa ng Ch và bà M1; iên ản hòa giải ngày 29/4/2016 của Ủy an nhân dân xã P tiến hành hoà giải giữa à M1 và bà H1. T i các iên ản hòa giải này, à M1 đều thừa nhận đất là của cha mẹ để l i.
Bà M yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:
- Yêu cầu Tòa án xác định di sản của cụ Lý và cụ Thương để l i là thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14, diện tích 1.190,4m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 ngày 01/08/2013 và phân chia theo pháp luật cho những người thừa kế của cụ Lý và cụ Thương gồm các ng, à M, M1, H1, S, Ch. T i đơn kh i kiện ngày 09/01/2019, à M yêu cầu được nhận một phần đất đ ng v i diện tích đất trư c đây mà à M1 đã lập hồ sơ tách thửa cho à M là 304m2 (06m x 50,68m). Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật đất đai hiện nay, diện tích 1.190,4m2 kh ng đủ điều kiện tách thửa cho các đồng thừa kế. Do đó, đề nghị Tòa án căn cứ vào hiện tr ng tài sản tranh chấp để xem xét, đánh giá và quyết định, chia ằng hiện vật hay chia giá trị nguyên đơn đều đồng ý.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 ngày 01/08/2013 do UBND huyện (nay là thị xã) B cấp cho hộ à M1.
- Hủy hợp đồng ủy quyền về quyền sử dụng đất được ký kết giữa hộ à M1 v i ng Ph m Bá Hiện được c ng chứng ngày 22/8/2019 t i Văn phòng CCBD.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ng Hiện là đ i diện theo ủy quyền của hộ à M1 v i à Nguyễn Thị L1 được c ng chứng ngày 25/12/2018 t i Văn phòng CCSS.
* Trong bản tự khai và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn Phạm Thị M1 và ngƣời đại diện hợp pháp là bà Dƣơng Phạm Hồng  trình bày:
Về quan hệ huyết thống: bị đơn thống nhất v i lời trình ày của nguyên đơn và người đ i diện hợp pháp của nguyên đơn như trên. Cụ Lý và cụ Thương chết kh ng để l i di ch c.
Quá trình chung sống cho đến khi chết thì cụ Lý và cụ Thương kh ng t o lập được tài sản chung nào hết. Các thửa đất số 175 (hiện còn l i là thửa đất số 2156), 461 và 491 là do bà M1 xí ( ao chiếm) đất và khai kh n thêm. Căn nhà và các c ng trình trên đất hiện nay cũng là của à M1 xây d ng, kh ng phải là di sản của cụ Lý và cụ Thương. Cụ Lý, cụ Thương kh ng được Nhà nư c cấp đất và kh ng có ất cứ giấy tờ gì chứng minh các thửa đất trên là của cụ Lý, cụ Thương để l i. Quá trình quản lý, sử dụng đất, à M1 có đóng thuế và đăng ký, kê khai, sau đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00673 QSDĐ/1469/QĐ-UB ngày 20/12/1999. Việc à M1 đăng ký, kê khai và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kh ng ai khiếu n i, cản tr . Bà M1 chuyển nhượng đất cho ng Lộc, à Nga anh em trong nhà cũng kh ng ai có ý kiến gì. Đến năm 2013, khi Nhà nư c thu hồi một phần đất để m rộng đường ĐT744, bà M1 được nhận ồi thường cũng kh ng ai có ý kiến gì. Năm 2013, à M1 tặng cho bà Â 01 phần đất thuộc thửa đất số 175 v i diện tích khoảng 500m2, tách thành thửa đất số 2155. Bà Â được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho ng Nguyễn Văn hoa vào c ng năm 2013. Phần đất còn l i của thửa đất số 175 à M1 được cấp đổi l i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 ngày 01/08/2013, diện tích 1190,4m2, thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14. Việc à M1 tặng cho đất, à Â chuyển nhượng đất cho người khác cũng kh ng ai có ý kiến, cản tr gì.
C ng an thị xã B đã xác nhận vào ngày 20/12/1999 và ngày 01/8/2013 là các thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ à M1 thì thành viên hộ gia đình à M1 chỉ gồm có à M1, bà H1 và bà Â. Bà M1 không chia cho bà M phần đất diện tích 304m2 (6m x 50,68m) như à M trình bày. Bà M xin bà M1 một phần đất để cho con gái l n . Vì tình cảm chị em nên à M1 có đồng ý cho à M 01 phần đất ngang 05 m, dài 50,68m nhưng khi th c hiện đo đ c, tách thửa thì à M t ý yêu cầu đo chiều ngang 06 m. Bà M1 kh ng để ý nên đã ký vào hồ sơ đo đ c, khi phát hiện ra thì à M1 kh ng đồng ý và kh ng tiến hành làm thủ tục tặng cho.
Trư c đây, vì tình cảm anh em nên à M1 có hứa cho ng Ch 01 phần đất phía sau (giáp đường làng) v i diện tích 5m x 20m = 100m2 để ng Ch cho l i con trai ông Ch. Đây là à M1 cho chứ kh ng phải là chia đất của cha mẹ để l i. Tuy nhiên, do ông Ch sống kh ng tình nghĩa và con ng Ch cũng kh ng có nhu cầu nhận nên à M1 kh ng cho nữa.
Năm 2013, à M1 có cho ông S xây cất 01 ki ốt trên thửa đất số 2156 để ông S làm chỗ rửa xe nhưng hiện ng S kh ng sử dụng nữa. Cuối năm 2022, à M1 đã trả cho ng S 40.000.000 đồng ( ốn mươi triệu đồng) giá trị ki ốt do ng S xây d ng, ng S đồng ý giao căn ki ốt cho bà M1 toàn quyền sử dụng hoặc cho thuê. Về các iên ản hòa giải của Ủy an nhân dân xã P khi hòa giải giữa bà M1 v i ng Ch vào năm 2010, năm 2011 và hòa giải giữa à M1 v i à H1 vào năm 2016: T i các iên ản này à M1 có thừa nhận đất là do cha mẹ để l i là vì ông Ch, bà H1 ất hòa kiện tụng v i à M1. Nhưng sau đó ng Ch và bà H1 kh ng kiện tụng gì à M1 nữa. Nay à M1 xác định: Đất là tài sản riêng của bà M1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đầu tiên vào năm 1999 và cấp đổi l i vào năm 2013, kh ng phải là di sản thừa kế của cụ Lý và cụ Thương.
Đối v i các yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, à M1 có ý kiến:
- Bà M1 kh ng đồng ý yêu cầu chia di sản thừa kế đối v i thửa đất số 2156 của à M. Đề nghị Tòa án kh ng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 do Ủy an nhân dân huyện (nay là thị xã) B cấp ngày 01/8/2013 cho hộ à M1 là hợp pháp, đ ng quy định pháp luật. hi à M1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kh ng ai tranh chấp hay khiếu n i gì. Do đó đề nghị Tòa án kh ng chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của à M.
- Hộ à M1 gồm có à M1, bà H1, bà Â chuyển nhượng cho vợ chồng à L1, ông Hiện phần đất có diện tích là 400m2 (ngang 10m, dài 40m) thuộc một phần của thửa đất số 2156 v i giá là 3.500.000.000 đồng. Hai ên thỏa thuận trong 400m2 này có 100m2 là đất và ên chuyển nhượng phải chịu chi phí chuyển mục đích sử dụng từ đất cây lâu năm thành đất . Đất chuyển nhượng phải chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất thì m i đủ điều kiện để tách thửa. Ngày 05/01/2018, vợ chồng à L1 đặt c c cho à M1 600.000.000 đồng; ngày 29/3/2018 vợ chồng à L1 trả thêm 900.000.000 đồng; ngày 17/4/2018 vợ chồng à L1 trả thêm 325.00.000 đồng. Ngày 22/8/2018, hộ bà M1 ký kết hợp đồng ủy quyền cho ng Hiện được c ng chứng t i Văn phòng CCBD, số c ng chứng 17437 quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGD để ng Hiện th c hiện các thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, tách thửa. C ng ngày 22/8/2018, vợ chồng à L1, ng Hiện giao thêm cho hộ à M1 1.400.000.000 đồng. Đến ngày 22/8/2018 vợ chồng à L1 đã giao cho hộ à M1 tổng cộng 3.225.000.000 đồng. Hai ên thống nhất là vợ chồng à L1 giữ l i 275.000.000 đồng để nộp chi phí, thuế chuyển mục đích sử dụng đất, đo đ c…
Sau khi ký hợp đồng ủy quyền, ng Hiện đã làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và đo đ c để tách thửa. Đến ngày 25/12/2018, à L1 c ng ng Hiện (là người đ i diện theo ủy quyền của các à M1, H1, Â) ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nội dung à L1 nhận chuyển nhượng từ à M1, bà H1, bà Â thửa đất số 2707 (thửa m i) v i diện tích 400m2 là một phần của thửa đất số 2156, hợp đồng được c ng chứng số 018309 quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD t i Văn phòng CCSS. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất, hộ bà M1 đã giao đất cho vợ chồng bà L1, ng Hiện sử dụng từ đó đến nay. Hai ên cũng tính toán các khoản chi phí và vợ chồng à L1, ng Hiện đã giao cho bà M1 đủ số tiền 3.500.000.000 đồng. Do đất cấp cho hộ nên khi nhận tiền thì 03 người trong hộ là à M1, bà Â, bà H1 ký nhận tiền nhưng th c tế tiền do à M1 nhận đủ 3.500.000.000 đồng, các à H1 và Â chỉ ký nhưng kh ng nhận tiền. Việc à H1, bà M1 và bà Â ủy quyền cho ng Hiện là hợp pháp, đ ng quy định pháp luật. Việc hộ à M1 do ng Hiện nhận ủy quyền đã chuyển nhượng đất cho bà L1 là hợp pháp, đ ng quy định pháp luật. Bà M1 đề nghị Tòa án kh ng chấp nhận yêu cầu hủy các hợp đồng này của nguyên đơn.
Hiện nay diện tích còn l i của thửa đất số 2156 sau khi trừ hành lang ảo vệ đường ộ là rất ít. Trường hợp Tòa án xác định thửa đất số 2156 là di sản của cụ Lý, cụ Thương và phân chia theo pháp luật, phân chia theo giá trị thì ị đơn bà M1 kh ng có khả năng thanh toán giá trị các kỷ phần cho các đồng thừa kế.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Phạm Văn Ch trình bày trong quá trình tham gia tố tụng như sau: Ông Ch thống nhất v i ý kiến của nguyên đơn và ị đơn về quan hệ huyết thống. Ông thống nhất v i ý kiến và yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn. Phần đất à M tranh chấp yêu cầu chia là của cha mẹ để l i. T i iên ản hòa giải ngày 19/7/2019, ông Ch có yêu cầu à M1 chia cho ông Ch một phần đất có diện tích 200m2 (10m x 20m) do cụ Lý và cụ Thương để l i. Sau đó, ng Ch xác định ng kh ng có yêu cầu độc lập. Nếu Tòa án xác định diện tích đất tranh chấp là di sản thừa kế của cha mẹ để l i và phân chia thì ng Ch nhận phần tài sản mà mình được chia. Các nội dung tranh chấp khác, ng Ch đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ông Phạm Ngọc S trình bày trong quá trình tham gia tố tụng như sau: Ông S thống nhất v i ý kiến của nguyên đơn và ị đơn về quan hệ huyết thống. Năm 2013, ông S có xây d ng 01 ki ốt trên thửa đất số 2156. Vào cuối năm 2022, ông S đã nhận l i chi phí vật tư xây d ng ki ốt là 40.000.000 đồng từ à M1 và giao cho bà M1 toàn quyền s hữu đối v i ki ốt trên. Ông S không có ý kiến gì về việc tranh chấp giữa các ên. Trường hợp Tòa án xác định thửa đất số 2156 là di sản của cụ Lý, cụ Thương và phân chia theo pháp luật thì ng S từ chối nhận, ng S kh ng tặng cho kỷ phần của mình cho người anh, chị, em nào khác.
- Bà Phạm Thị H1 và người đại diện hợp pháp là bà Dương Phạm Hồng  trình bày trong quá trình tham gia tố tụng như sau: Bà H1 thống nhất v i ý kiến của nguyên đơn và ị đơn về quan hệ huyết thống. Bà H1 thống nhất v i ý kiến của à M1. Đất tranh chấp là tài sản riêng của à M1, kh ng phải là di sản thừa kế của cụ Lý và cụ Thương nên kh ng thể chia. Bà H1 kh ng có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trường hợp nếu Tòa án chia di sản thừa kế của cha mẹ thì à H1 xin nhường (tặng cho) kỷ phần của mình cho bà M1 được hư ng. hi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H1 là người đóng thuế sử dụng đất năm 1995 (02 lần) và năm 1996 (02 lần) là do à H1 chung nhà v i à M1 nên đứng ra đóng vì thời điểm này bà M1 thường xuyên vắng nhà.
Bà M1 là thành viên trong hộ gia đình nên có ký vào các hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i vợ chồng à L1, ông Hiện. Bà H1 cùng bà M1, bà Â có ký vào giấy xác nhận đã nhận đủ 3.500.000.000 đồng của vợ chồng ng Hiện. Tuy nhiên, người nhận tiền th c tế là bà M1 vì đất là tài sản riêng của à M1. Việc chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà L1, ng Hiện là hợp pháp, đề nghị Tòa án c ng nhận hợp đồng này. Đề nghị Tòa án kh ng chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
- Bà Dương Phạm Hồng  trình bày trong quá trình tham gia tố tụng như sau: Bà  là con gái của à M1. Thửa đất số 2156 đang tranh chấp là tài sản riêng của à M1, kh ng phải là di sản của cụ Lý, cụ Thương. Bà  là thành viên trong hộ à M1 nên có ký hợp đồng ủy quyền cho ng Ph m Bá Hiện t i Văn phòng c ng chứng Bình Dương. Bà  cùng bà M1, bà H1 có chuyển nhượng 400m2 cho vợ chồng à L1, ng Hiện và c ng à H1, bà M1 ký nhận của vợ chồng à L1, ng Hiện số tiền 3.500.000.000 đồng. Tuy nhiên, người nhận tiền là bà M1. Diện tích đất tranh chấp là tài sản riêng của à M1 nên bà M1 được toàn quyền quyết định. Bà  thống nhất v i ý kiến của à M1, đề nghị Tòa án kh ng chấp nhận các yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
- Bà Nguyễn Thị L1 và ông Phạm Bá Hiện trình bày trong quá trình tham gia tố tụng như sau: Bà L1 và ng Hiện là vợ chồng, ng à có nhận chuyển nhượng từ hộ à M1 (gồm à M1, bà H1, bà Â) phần đất có diện tích 400m2 (10m x 40m), trong đó có 100m2 đất , là một phần của thửa đất số 2156, giá chuyển nhượng là 3.500.000.000 đồng. Vị trí nhận chuyển nhượng tiếp giáp đường ĐT741 (hư ng ắc) và giáp thửa 2151 (hư ng Đ ng). Ngày 05/01/2018, hai ên ký v i nhau “Giấy nhận c c đất”. Việc thanh toán được th c hiện như sau: ngày 05/01/2018: đặt c c 600.000.000 đồng; ngày 29/02/2018: giao 900.000.000 đồng; ngày 17/4/2018: giao 265.000.000 đồng. Các lần giao nhận tiền này à Â ký và ghi rõ số tiền nhận vào “Giấy nhận c c đất” ngày 05/01/2018. Ngày 09/8/2018: Giao 60.000.000 đồng (hai ên kh ng viết giấy giao nhận tiền, à Â ký vào iên nhận của cửa hàng vật liệu xây d ng Thắng Lợi). Ngày 22/8/2018: Giao 1.400.000.000 đồng. Tổng cộng: 3.225.000.000 đồng. Số tiền còn l i là: 275.000.000 đồng vợ chồng à L1, ng Hiệu giữ l i để làm các thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất và thủ tục tách thửa. Ngày 22/8/2018, hộ à M1 ký hợp đồng ủy quyền cho ng Hiện, hợp đồng được c ng chứng t i Văn phòng CCBD, số chứng 17437 quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGD. Đồng thời, à M1 giao ản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ng Hiện giữ và th c hiện các thủ tục. Sau khi được ủy quyền, ng Hiện đã th c hiện xong thủ tục chuyển mục đích sử dụng 100m2 đất trồng cây lâu năm sang 100m2 đất , đồng thời nộp hồ sơ tách thửa đất. Theo kết quả đo đ c tách thửa, thửa đất tách ra để chuyển nhượng cho vợ chồng à L1, ng Hiện là thửa 2707, diện tích 400m2 (trong đó có 100m2 đất ), diện tích còn l i của hộ à M1 là thửa 2706, diện tích 790,4m2.
Ngày 25/12/2018, ng Hiện v i tư cách là người đ i diện theo ủy quyền của ên chuyển nhượng là các bà M1, H1 và Â ký kết hợp đổng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i ên nhận chuyển nhượng là à L1, nội dung chuyển nhượng thửa đất số 2707 (thửa m i) v i diện tích 400m2, hợp đồng được c ng chứng số 018309 quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD t i Văn phòng CCSS. Sau khi c ng chứng hợp đồng chuyển nhượng, ng Hiện đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t i Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của Ủy ban nhân dân thị xã B, đã có giấy iên nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả vào ngày 01/02/2019. Tuy nhiên, ngày 25/01/2019 thì ng Hiện được bộ phận tiếp nhận hồ sơ th ng áo ngừng hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L1 vì phát sinh tranh chấp và trả l i toàn ộ hồ sơ cho vợ chồng à L1, ng Hiện. Ông Hiện đang giữ ản chính của toàn ộ hồ sơ này, ao gồm cả ản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ à M1. Bà M1, bà H1 và bà Â đã giao đất cho vợ chồng à L1, ng Hiện. Sau khi trừ đi chi phí chuyển mục đích sử dụng đất, đo đ c, tách thửa... thì vợ chồng à L1, ng Hiện đã thanh toán đủ cho hộ à M1 275.000.000 đồng còn l i vào ngày 01/12/2019. Các ên c ng ký “Biên ản giao đất”, nội dung là ên à M1, H1, Â giao 400m2 đất cho vợ chồng bà L1 và ng Hiện; vợ chồng à L1, ng Hiện giao đủ 3.500.000.000 đồng cho ên án. C ng ngày 01/12/2019, hai ên cũng ký “Hợp đồng cam kết giao đất”, trong đó xác định rõ diện tích đất chuyển nhượng, số tiền chuyển nhượng đất đã thanh toán và trách nhiệm của các ên do đất có tranh chấp.
Từ ngày 01/12/2019 đến nay, à L1, ông Hiện quản lý, sử dụng 400m2 đất đã nhận chuyển nhượng, xây d ng nhà kho, hàng rào khung sắt và tole; gắn ảng hiệu cửa hàng, chứa vật liệu xây d ng để u n án. Bà L1, ng Hiện xác nhận số tiền nhận chuyển nhượng đất 3.500.000.000 đồng là tài sản chung của vợ chồng. Việc bà L1 và chồng ( ng Hiện) ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i tư cách là hai ên chuyển nhượng – nhận chuyển nhượng là kh ng đ ng quy định của pháp luật. Thời điểm ký hợp đồng, cả hai kh ng nhận thức được việc ký hợp đồng như vậy là vi ph m quy định của Bộ luật dân s . Nay bà M yêu cầu hủy hợp đồng được c ng chứng số 018309, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/12/2018 t i Văn phòng CCSS nói trên thì bà L1, ng Hiện đồng ý. Tuy nhiên, việc vợ chồng bà L1, ng Hiện nhận chuyển nhượng đất là có thật, ngay tình, đã giao đủ tiền, đã nhận đất và quản lý sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Trư c đây, ngày 22/3/2021, bà L1 có nộp đơn yêu cầu độc lập và yêu cầu Tòa án: “C ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết giữa ng Ph m Bá Hiện (là người đ i diện theo ủy quyền của à Ph m Thị M1, Ph m Thị H1, Dương Ph m Hồng Â) v i à Nguyễn Thị L1 đối v i phần đất có diện tích 400m2 thuộc một phần của thửa đất số 2156 tờ ản đồ số 14 được c ng chứng số 018309 quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/12/2018 t i Văn phòng CCSS”. Nay bà L1 thay đổi yêu cầu độc lập như sau: Yêu cầu c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết giữa vợ chồng à Nguyễn Thị L1, ng Ph m Bá Hiện và à Ph m Thị M1, à Ph m Thị H1, à Dương Ph m Hồng  về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 400m2 (trong đó có 100m2 thổ cư) thuộc một phần thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14 t a l c t i ấp Ph Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Ông Hiện cũng có nộp đơn yêu cầu độc lập và có c ng yêu cầu như à L1.
Đối v i yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền của nguyên đơn: Để th c hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, sau đó tiến hành tách thửa để ký hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng bà L1, hộ à M1 đã ủy quyền cho ông Hiện để liên hệ các cơ quan có th m quyền th c hiện c ng việc trên. Việc ủy quyền này ph hợp quy định của pháp luật. Hộ à M1 ủy quyền cho ng Hiện đối v i toàn ộ thửa đất số 2156. Trên cơ s ủy quyền của hộ à M1, ng Hiện đã nộp hồ sơ và th c hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất đối v i 100m2 đất trồng cây lâu năm thành 100m2 đất . Thủ tục hành chính đã hoàn tất, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B đã cập nhật th ng tin về việc này vào ngày 22/11/2018. Việc ng Hiện th c hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất là ph hợp quy định pháp luật, trên cơ s hợp đồng ủy quyền. Do đó, à L1 và ng Hiện kh ng đồng ý yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền của nguyên đơn.
- Văn phòng CCBD nêu ý iến: Hợp đồng ủy quyền được giao kết giữa à Ph m Thị M1, à Ph m Thị M, à Dương Ph m Hồng  và ng Ph m Bá Hiện được c ng chứng t i Văn phòng CCBD ngày 22/8/2018, số c ng chứng 017437 quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGD. T i thời điểm các ên giao kết hợp đồng và c ng chứng viên Văn phòng CCBD th c hiện c ng chứng thì hồ sơ c ng chứng nêu trên hoàn toàn ph hợp v i các quy định của pháp luật t i Bộ luật Dân s năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn ản hư ng dẫn thi hành. Việc c ng chứng được th c hiện đ ng v i thủ tục và quy trình c ng chứng theo quy định của Luật C ng chứng năm 2014 và quy định của Văn phòng c ng chứng Bình Dương. Vì vậy Văn phòng CCBD không đồng ý v i yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng ủy quyền này.
- Văn phòng CCSS (nay là Văn phòng Công chứng NVH) nêu ý iến: Ngày 25/12/2018, c ng chứng viên Văn phòng CCSS có chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 018309 quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD. Các ên khi giao kết hợp đồng đã đ c, kiểm tra nội dung ản hợp đồng. Sau khi đ c xong, đồng ý toàn ộ nội dung ghi trong hợp đồng, đã ký và điểm chỉ trư c mặt C ng chứng viên ngay t i Văn phòng CCSS.
Các ên giao kết hợp đồng có năng l c hành vi dân s ph hợp theo quy định của pháp luật, việc giao kết hoàn toàn t nguyện, minh mẫn, sáng suốt, kh ng có dấu hiệu ị đe d a và cưỡng ép. Mục đích nội dung thỏa thuận của các ên kh ng vi ph m pháp luật, kh ng trái đ o đức xã hội. C ng chứng viên đã giải thích rõ cho hai ên quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của h , ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng. T i thời điểm c ng chứng, Văn phòng CCSS kh ng nhận ất kỳ văn ản nào của cơ quan có th m quyền đề nghị ngăn chặn hay đình chỉ th c hiện các quyền của người sử dụng đất và tài sản. Do đó, tài sản đủ điều kiện giao dịch theo quy định của pháp luật. Việc c ng chứng được th c hiện đ ng v i thủ tục và quy trình c ng chứng theo quy định của Luật C ng chứng năm 2014, Bộ luật Dân s năm 2015 và những văn ản liên quan để tiến hành. Vì vậy, Văn phòng c ng chứng S Sao kh ng đồng ý v i yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này.
T i Bản án dân s sơ th m số 100/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Phạm Thị M đối với bị đơn bà Phạm Thị M1 về việc: Tranh chấp về thừa ế tài sản.
1.1. Xác định di sản thừa ế của cụ Phạm Văn Lý và cụ Bùi Thị Thương gồm có:
- 790,4m2 thuộc thửa đất số 2156 tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930, ngày 01/08/2013 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) B cấp cho hộ bà Phạm Thị M1. Đất tọa lạc tại ấp Phú Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương, trị giá 6.365.120.000 đồng.
- 3.500.000.000 đồng là giá trị chuyển nhượng 400m2 thuộc thửa đất số 2156 nói trên.
Tổng giá trị di sản: 9.865.120.000 đồng (chín tỷ, tám trăm sáu mươi lăm nghìn, một trăm hai mươi đồng).
1.2. Phân chia di sản như sau:
Bà Phạm Thị M được nhận 01 (một) ỷ phần, tương ứng số tiền 1.973.024.000 đồng (một tỷ, chín trăm bảy mươi ba triệu, hông trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Bà Phạm Thị M1 được nhận 02 (hai) ỷ phần, tương ứng số tiền 3.946.048.000 đồng (ba tỷ, chín trăm bốn mươi sáu triệu, hông trăm bốn mươi tám nghìn đồng) và 20% giá trị di sản, tương ứng 1.973.024.000 đồng (một tỷ, chín trăm bảy mươi ba triệu, hông trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng: 5.919.072.000 đồng (năm tỷ, chín trăm mười chín triệu, hông trăm bảy mươi hai nghìn đồng), trừ 3.500.000.000 đồng (ba tỷ, năm trăm triệu đồng) tiền chuyển nhượng đất bà Phạm Thị M1 đã nhận, còn lại bà Phạm Thị M1 được tiếp tục nhận 2.419.072.000 đồng (hai tỷ, bốn trăm mười chín triệu, hông trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Ông Phạm Văn Ch được nhận 01 (một) ỷ phần, tương ứng số tiền 1.973.024.000 đồng (một tỷ, chín trăm bảy mươi ba triệu, hông trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
1.3. Bà Phạm Thị M có trách nhiệm thanh toán giá trị các ỷ phần thừa ế tại Mục 1.2 trên đây cho bà Phạm Thị M1, ông Phạm Văn Ch.
Bà Phạm Thị M có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà Phạm Thị M1, tổng cộng là: 508.123.530 đồng (năm trăm lẻ tám triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, năm trăm ba mươi đồng).
Giao cho bà Phạm Thị M được quản lý, sử dụng diện tích đất 790,4m2 thuộc thửa đất số 2156 tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 ngày 01/08/2013 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) B cấp cho hộ bà Phạm Thị M1 và được sở hữu các tài sản gắn liền với diện tích đất 790,4m2. Đất tọa lạc tại Ấp Phú Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương, trị giá 6.365.120.000 đồng.
(Ký hiệu I trên sơ đồ èm theo).
Ngay hi bản án có hiệu lực pháp luật và bà Phạm Thị M đã thanh toán đủ số tiền theo ỷ phần thừa ế cho bà Phạm Thị M1, ông Phạm Văn Ch; thanh toán đủ giá trị tài sản trên đất tranh chấp cho bà Phạm Thị M1 như đã nêu trên thì bà Phạm Thị M được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 790,4m2 thuộc thửa đất số 2156 tờ bản đồ số 14 nêu trên.
Trường hợp bà Phạm Thị M hông thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán giá trị ỷ phần thừa ế và giá trị tài sản như trên thì cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền được quyền ê biên, bán đấu giá diện tích đất 790,4m2 thuộc thửa đất số 2156 tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản (sau hi trừ đi nghĩa vụ nộp thuế quyền sử dụng đất, chi phí phải nộp theo quy định) sẽ được chia cho các đồng thừa ế theo tỷ lệ như đã phân tích trên.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Phạm Thị M đối với bị đơn bà Phạm Thị M1 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao ết giữa ông Phạm Bá Hiện (là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị H1, bà Dương Phạm Hồng Â) với bà Nguyễn Thị L1 đối với phần đất có diện tích 400m2 thuộc một phần của thửa đất số 2156, tờ bản đồ số 14 được công chứng số 018309, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 25/12/2018 tại Văn phòng công chứng Sở Sao.
3. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Phạm Thị M đối với bị đơn bà Phạm Thị M1 về việc yêu cầu tuyên hủy hợp đồng ủy quyền và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuyên chấm dứt hợp đồng ủy quyền được giao ết giữa ông Phạm Bá Hiện với bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị H1, bà Dương Phạm Hồng  được công chứng số 17437, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 22/8/2018 tại Văn phòng công chứng Bình Dương.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Bá Hiện đối với bị đơn bà Phạm Thị M1 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao ết giữa hộ bà Phạm Thị M1 (gồm bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị H1, bà Dương Phạm Hồng Â) với bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Bá Hiện đối với phần đất có diện tích 400m2 (có 100m2 thổ cư) thuộc một phần của thửa đất số 2156 tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp Phú Thứ, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
(Ký hiệu II trên sơ đồ èm theo).
Bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Bá Hiện được quyền quản lý, sử dụng và được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.
5. Kiến nghị UBND thị xã B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 ngày 01/08/2013 do UBND huyện (nay là thị xã) B cấp cho hộ bà Phạm Thị M1 để cấp lại cho người được quyền quản lý, sử dụng theo quyết định tại bản án này.
Ông Phạm Bá Hiện đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03930 ngày 01/08/2013 có trách nhiệm giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, ản án sơ th m còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ th m, ngày 08/9/2023, à Ph m Thị M1 là ị đơn có đơn kháng cáo yêu cầu xét xử l i ph c th m, sửa ản án sơ th m, kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn à Ph m Thị M. Ngày 12/9/2023, ông Ph m Minh T1 là người đ i diện của nguyên đơn có đơn kháng cáo, yêu cầu xét xử ph c th m: chia thừa kế cho nguyên đơn diện tích đất 1.190,4m2. Nguyên đơn sẽ thanh toán l i giá trị kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế; kh ng đồng ý trích 20% giá trị di sản về c ng sức cho ị đơn; tài sản trên đất ị đơn phải tháo dỡ, nguyên đơn kh ng đồng ý thanh toán giá trị; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 01/8/2013 cho hộ ị đơn, kh ng c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ị đơn v i à L1. T i phiên tòa ph c th m, người đ i diện của nguyên đơn và người đ i diện của ị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của iểm sát viên đ i diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng t i Tòa án cấp ph c th m đã th c hiện đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s . Về nội dung: Tòa án cấp sơ th m xác định di sản của cụ Lý, cụ Thương để l i là có căn cứ và chia thừa kế là ph hợp. Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và ị đơn là kh ng có cơ s . Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s , ác kháng cáo, giữ nguyên ản án sơ th m.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được th m tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của iểm sát viên;
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] T i phiên tòa, người đ i diện của nguyên đơn, người đ i diện của ị đơn, à L1, ng Hiện có mặt. Các đương s còn l i có đơn xin vắng mặt. Tòa án tiến hành phiên tòa ph c th m xét xử vắng mặt h theo quy định t i khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân s .
[2] Về quan hệ huyết thống: cụ ng Ph m Văn Lý chết năm 1993 và cụ à B i Thị Thương chết năm 1982. Hai cụ có 05 người con gồm: ng Ph m Văn Ch, ng Ph m Ng c S, à Ph m Thị H1, à Ph m Thị M1 (sau đây viết là ị đơn), à Ph m Thị M (sau đây viết là nguyên đơn).
[3] Về di sản: xét thấy, ị đơn và người đ i diện cho rằng: phần đất diện tích 1.190,4m2 thuộc thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14 t a l c t i xã P. Bị đơn đã được Ủy an nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất ngày 01/8/2013 là tài sản riêng của ị đơn kh ng phải di sản của cụ Lý, cụ Thương để l i. Thấy rằng: theo hồ sơ quản lý đất đai, đăng ký kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ị đơn đăng ký quyền sử dụng đất, th c hiện thủ tục theo quy định của pháp luật và được Ủy an nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/12/1999 và cấp l i, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất ngày 01/8/2013. T i đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ị đơn ngày 08/6/1996 thể hiện nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nư c cấp năm 1976 (thời điểm năm 1976, ị đơn m i được 13 tuổi thì kh ng thể được nhà nư c cấp đất). T i các biên ản hòa giải tranh chấp thừa kế giữa các con của cụ Lý và cụ Thương t i Ủy an nhân dân xã P vào các ngày: 08/7/2010, 07/01/2011, 29/4/2016 thì ị đơn và các anh, chị, em khai: nguồn gốc đất là của cha mẹ để lại. Cha mẹ được nhà nước cấp đất. Khi ba tôi mất gia đình nghèo hổ ở căn nhà mục nát… S thừa nhận của ị đơn là tình tiết, s kiện kh ng phải chứng minh theo quy định t i Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân s . Lời khai của ng Nguyễn Thế H ng nguyên Trư ng ấp Ph Thứ và ng Phan Đỗ Hoàng im – Trư ng ấp Ph Thứ, xã P cũng xác định nguồn gốc đất là của cụ Lý, cụ Thương có xây nhà trên đất. Sau khi hai cụ chết, à M1 đăng ký kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, ị đơn th c hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích (các đương s kh ng tranh chấp phần đất đã chuyển quyền sử dụng đất). Phần đất còn l i diện tích 1.190,4m2 thuộc thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14, ị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/8/2013. Tòa án cấp sơ th m xác định là di sản của cụ Lý, cụ Thương để l i là có căn cứ. Thừa ủy quyền của Ủy an nhân dân thị xã B, Phòng Tài nguyên và M i trường thị xã B có C ng văn số 406/TNMT-TTĐĐ ngày 31/3/2020 xác định: Ủy an nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/8/2013 cho à Ph m Thị M1 là đ ng trình t , thủ tục, ph hợp v i pháp luật về đất đai. Nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là kh ng có cơ s .
[4] Ngày 05/01/2018, hộ ị đơn gồm à M1, bà H1, bà Â (con của à M1) thỏa thuận lập giấy nhận c c đất chuyển nhượng diện tích đất 400m2 thuộc thửa 2156, tờ ản đồ số 14 cho à Nguyễn Thị L1 v i giá 3.500.000.000 đồng. Ngày 22/8/2018, bà M1, bà H1, bà Â lập hợp đồng ủy quyền cho ng Ph m Bá Hiện, được quyền chuyển quyền sử dụng đất thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 01/8/2013. Hợp đồng có c ng chứng của Văn phòng CCBD. Ngày 25/12/2018, bà M1, bà H1, bà Â do ông Hiện đ i diện ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho à Nguyễn Thị L1 diện tích đất 400m2 trong đó có 100m2 đất ONT. Hợp đồng có c ng chứng của Văn phòng CCSS. Ngày 01/12/2019, bà M1, bà H1, bà Â lập hợp đồng cam kết giao đất, iên ản giao đất diện tích 400m2 thuộc một phần thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14, được tách thành thửa 2707 (thửa m i) cho à L1, ng Hiện và xác nhận đã nhận đủ số tiền 3.500.000.000 đồng của à L1, ông Hiện. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, bà L1, ng Hiện đã xây cất nhà , lập hàng rào kiên cố, lư i B40, trụ cổng ao quanh khu đất. Bị đơn và à L1, ông Hiện đã th c hiện đầy đủ thủ tục đo đ c, tách thửa theo quy định. Tách thửa 2156 thành 02 thửa: 2706, 2707. Thửa 2707 cho à L1 diện tích 400m2 (ONT: 100m2, CLN: 300m2). Thửa 2706 của ị đơn diện tích còn l i 790,4m2 (ONT: 100m2, CLN: 690,4m2) tờ ản đồ 14. Do phát sinh tranh chấp, cơ quan có th m quyền chưa th c hiện cập nhật đăng ký iến động theo quy định. Như vậy, ên chuyển nhượng à M1, bà H1, bà Â đã nhận đủ số tiền 3.500.000.000 đồng và giao đất diện tích 400m2 cho ên nhận chuyển nhượng à Liện. Bà L1, ng Hiện đã nhận đất, xây cất nhà , làm hàng rào kiên cố, xây d ng c ng trình trên đất và đã th c hiện đầy đủ thủ tục theo quy định. Do vậy, cần c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/12/2018. Nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 22/8/2018 và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/12/2018 là kh ng có cơ s . Bà L1, ng Hiện yêu cầu được c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có cơ s , ph hợp pháp luật.
[5] Về di sản của cụ Lý và cụ Thương để l i: Diện tích đất 1.190,4m2 trong đó có 100m2 đất ; 1.090,4m2 đất trồng cây lâu năm. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ị đơn đã chuyển mục đích sử dụng đất từ cây lâu năm (CLN) thành đất t i n ng th n (ONT) thêm diện tích 100m2 theo Quyết định số 1098/QĐ-UBND ngày 21/9/2018 của UBND thị xã Bến Cát (phần diện tích 100m2 ị đơn chuyển mục đích thêm sang đất kh ng tính di sản là đất ).
- 690,4m2 đất CLN x 7.800.000 đồng/m2 5.385.120.000 đồng (1).
- 100m2 đất ONT x 9.800.000 đồng/m2 980.000.000 đồng (2).
- 3.500.000.000 đồng (3) là số tiền ị đơn chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 400m2 cho à L1.
Di sản của cụ Lý và cụ Thương để l i có giá trị: (1) (2) (3)
9.865.120.000 đồng. ét thấy, à Mẹo, à Hợi, à Â (con của à Mẹo) sinh sống trên phần đất này c ng v i cụ Lý, cụ Thương, chăm sóc, nu i dưỡng 02 cụ. Sau khi hai cụ chết, à Mẹo, à Hợi, à Â tiếp tục sinh sống, quản lý sử dụng đất trồng cây, xây cất nhà ổn định, đăng ký kê khai; ị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cả a đều , sinh sống t i thửa đất này. Nguyên đơn và các anh chị em đều có nơi ổn định và diện tích đất còn l i 790,4m2 (sau khi chuyển nhượng 400m2 đất cho à L1) kh ng đủ diện tích đất tách thửa để thừa kế theo Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh Bình Dương quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối v i từng lo i đất trên địa àn tỉnh Bình Dương và C ng văn số 136/CV-HĐTV ngày 26/7/2023 của UBND thị xã Bến Cát về việc giải quyết nhu cầu tách thửa đất thừa kế th ng qua Hội đồng tư vấn. Do vậy, giao cho ị đơn được hư ng thừa kế ằng hiện vật quyền sử dụng đất. Bị đơn hoàn l i giá trị kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế là ph hợp. em xét c ng sức gìn giữ, t n t o đất, trích cho ị đơn được hư ng 20% giá trị di sản là 1.973.024.000 đồng (9.865.120.000 đồng x 20%). Số tiền còn l i 7.892.096.000 đồng được chia thừa kế cho 05 người, mỗi người được hư ng 1.578.419.200 đồng. Bị đơn được chia thừa kế quyền sử dụng đất có trách nhiệm thanh toán l i cho nguyên đơn 1.578.419.200 đồng, ng Ch 1.578.419.200 đồng, đối v i kỷ phần thừa kế của ng Ph m Ng c S và à Ph m Thị Hợi, các đương s kh ng tranh chấp, từ chối nhận di sản nhường kỷ phần cho ị đơn, ị đơn được s hữu theo quy định của pháp luật.
[6] Từ nhận định trên, xét thấy: Toà án cấp sơ th m chia di sản quyền sử dụng đất của cụ Lý, cụ Thương và tài sản gắn liền đất của ị đơn cho nguyên đơn sử dụng, s hữu và hoàn l i giá trị tài sản cho các đồng thừa kế là kh ng đ ng pháp luật, làm ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ị đơn, à Hợi, à Â. Cần sửa ản án sơ th m. Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là kh ng có cơ s . Yêu cầu kháng cáo của ị đơn là có cơ s chấp nhận một phần. kiến của iểm sát viên là chưa ph hợp. n phí sơ th m: Miễn án phí cho ị đơn, ng Ch là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí. Bà L1, ng Hiện kh ng phải chịu án phí. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định. n phí ph c th m: Nguyên đơn, ị đơn kh ng phải chịu do sửa ản án sơ th m. Chi phí xem xét, th m định t i chỗ, đo đ c, định giá tài sản: nguyên đơn, ị đơn, ng Ch phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT Đ NH:
- Căn cứ các Điều: 609, 612, 620, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân s ;
- Căn cứ các Điều: 95, 166, 170, 188, 195 Luật Đất đai;
- Căn cứ các Điều 147, 148, 157, 165, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s ;
- Căn cứ các Điều: 12, 14, 15, 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hư ng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, ph t vi ph m,
Tuyên xử:
1. h ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Ph m Thị M i.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của à Ph m Thị Mẹo. Sửa Bản án số 100/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát như sau: chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của à Ph m Thị M i đối v i à Ph m Thị Mẹo về việc tranh chấp thừa kế tài sản. ác định di sản của cụ ng Ph m Văn Lý và cụ à B i Thị Thương để l i là: diện tích đất 790,4m2 thuộc thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất do Ủy na nhân dân huyện Bến Cát (nay là thị xã Bến Cát) cấp ngày 01/8/2013 cho hộ à Ph m Thị Mẹo và 3.500.000.000 đồng (là số tiền à Mẹo, à Hợi, à Â chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 400m2 cho à Nguyễn Thị L1). Giá trị di sản là: 9.865.120.000 đồng. Chia di sản như sau:
- Bà Ph m Thị M i được chia kỷ phần thừa kế là 1.578.419.200 đồng. Buộc à Ph m Thị Mẹo có nghĩa vụ thanh toán cho à M i 1.578.419.200 đồng.
- Ông Ph m Văn Ch được chia kỷ phần thừa kế là 1.578.419.200 đồng. Buộc à Ph m Thị Mẹo có nghĩa vụ thanh toán cho ng Ch 1.578.419.200 đồng.
- Ghi nhận s t nguyện của à Ph m Thị Hợi, ng Ph m Ng c S kh ng tranh chấp, từ chối nhận di sản, nhường kỷ phần thừa kế cho à Mẹo.
- Bà Ph m Thị Mẹo được quyền sử dụng diện tích đất 790,4m2 thuộc thửa đất số 2516, tờ ản đồ số 14 (trong đó có 100m2 đất , 690,4m2 đất trồng cây lâu năm) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất do Uỷ an nhân dân huyện Bến Cát (nay là thị xã Bến Cát) cấp ngày 01/8/2013 cho hộ à Ph m Thị Mẹo và s hữu nhà, cây trồng và các tài sản gắn liền đất to l c t i xã Ph n, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (có sơ đồ k m theo). Bà Mẹo có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. h ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của à Ph m Thị M i về việc yêu cầu huỷ Hợp đồng uỷ quyền ngày 22/8/2018; huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/12/2018 và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất do Uỷ an nhân dân huyện Bến Cát cấp ngày 01/8/2013 cho à Ph m Thị Mẹo.
4. Chấp nhận yêu cầu của à Nguyễn Thị L1 và ng Ph m Bá Hiện. C ng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/12/2018 giữa ên chuyển nhượng: à Ph m Thị Mẹo, à Ph m Thị Hợi, à Dương Ph m Hồng  v i ên nhận chuyển nhượng: à Nguyễn Thị L1 do Văn phòng CCSS công chứng số c ng chứng 018309, quyển số 12Tp/CC-SCC/HĐGD. Bà Nguyễn Thị L1, ng Ph m Bá Hiện được quyền sử dụng diện tích đất 400m2 (trong đó có 100m2 đất ) thuộc một phần thửa đất số 2156, tờ ản đồ số 14 t a l c t i xã Ph n, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (có sơ đồ k m theo). Bà L1, ng Hiện có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
5. Về án phí, chi phí th m định t i chỗ, đo đ c, định giá tài sản:
- n phí sơ th m: miễn án phí cho à Ph m Thị Mẹo, ng Ph m Văn Ch. Bà Ph m Thị M i phải chịu 44.100.000 đồng được trừ vào 3.800.000 đồng theo Biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Toà án số 0029915 ngày 24/01/2019 và 300.000 đồng theo Biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Toà án số 0047918 ngày 24/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân s thị xã Bến Cát. Bà M i còn phải nộp tiếp 40.000.000 đồng. Chi cục Thi hành án dân s thị xã Bến Cát trả l i cho à Nguyễn Thị L1 300.000 đồng theo Biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Toà án số 0054398, ngày 22/3/2021 và trả l i cho ng Ph m Bá Hiện 300.000 đồng theo Biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012108 ngày 08/8/2023.
- n phí ph c th m: Miễn án phí cho à Ph m Thị Mẹo; à Ph m Thị M i kh ng phải chịu. Chi cục Thi hành án dân s thị xã Bến Cát trả l i cho à Ph m Thị M i 300.000 đồng theo Biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012348 ngày 09/10/2023.
- Chi phí xem xét, th m định t i chỗ, đo đ c và định giá tài sản là 9.060.000 đồng. Bà Ph m Thị M i, à Ph m Thị Mẹo, ng Ph m Văn Ch phải chịu mỗi người 1/3. Bà M i đã nộp t m ứng. Ông Ch phải nộp 3.020.000 đồng để trả l i cho à M i; à Mẹo phải nộp 3.020.000 đồng để trả l i cho à M i.
ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối v i các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương s ; - V SND tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thị xã B; - Chi cục TH DS thị xã B; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |