vanban.org

Bản án 39/2023/ST-HS — Hình sự

TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H (Tên gọi khác: Beo) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Beo) 5 (Năm) năm tù thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 25/02/2023). 2/- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H (Tên gọi khác: Beo) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẤT ĐỎ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Bản án số 39/2023/HS-ST
Ngày 28-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hà.

Ông Nguyễn Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn - thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên toà: Bà Trần Minh Quế, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2023/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H (tên gọi khác: Beo), sinh năm 1998 tại Quãng Ngãi; Nơi cư trú: Xóm 1, thôn K, xã N, thành phố Quãng Ngãi, tỉnh Quãng Ngãi; Chỗ ở: Xóm 1, thôn K, xã N, thành phố Quãng Ngãi, tỉnh Quãng Ngãi; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn N, sinh năm 1979 và bà Huỳnh Thị Tuyết S, sinh năm 1978; Vợ con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/02/2023 có mặt tại phiên tòa. * Bị hại: Trần Quốc T, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-VũngTàu. (Có mặt) * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1- Bùi Minh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Hòa Tân, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quãng Ngãi. (Vắng mặt) 2- Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1996; Địa chỉ: 266/14 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt) 3- Nguyễn Văn Phi, sinh năm 1990; Địa chỉ: 266/14 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt) 4- Nguyễn Văn Tới, sinh năm 1985; Địa chỉ: 266/14 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt) 5- Đỗ Văn Nhỏ, sinh năm 1979; Địa chỉ: Xóm 1, thôn Kim Thạch, xã Nghĩa Hà, thành phố Quãng Ngãi, tỉnh Quãng Ngãi. (Có mặt) * Người làm chứng: Mai Ngọc Nam, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu phố Phước Sơn, thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Do có ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên Đỗ Văn Học lên mạng xã hội sử dụng tài khoản Facebook tên “Bằng Lăng Laos” tìm hiểu tài khoản tên Mai Ngọc Nam để tiếp cận lừa đảo. Ngày 30/10/2022, H tạo tài khoản zalo tên “Cây cổ thụ khủng” để tìm kiếm, kết bạn và nhắn tin với anh Mai Ngọc Nam để chào bán 01 cây vú sữa cho anh Nam với giá 50.000.000đồng, rồi H đưa số điện thoại 0337804020 để anh Nam liên lạc. Qua trao đổi, H yêu cầu anh Nam chuyển khoản trước nhưng anh Nam không đồng ý, anh Nam yêu cầu H chuyển cây vú sữa tới vườn thì anh Nam mới thanh toán tiền nên Học không chiếm đoạt được tiền của anh Nam. (BL 97 đến 104).

Đầu tháng 11 năm 2022, do có quen biết nên anh Nam giới thiệu cho anh Trần Quốc T người chuyên kinh doanh về cây cảnh biết thông tin về cây vú sữa trên, sau đó anh Tuấn liên hệ với H qua số điện thoại 0337804020 để hỏi mua. Lúc này, H đã sử dụng 02 sim rác (không nhớ số) để tạo 02 tài khoản zalo tên “Cây công trình” và “Cây cổ thụ khủng” kết bạn với tài khoản zalo của anh T theo số điện thoại 0933020444, H đưa ra những thông tin gian dối và gửi hình ảnh những cây cảnh của người khác cho anh Tuấn với mục đích để chiếm đoạt tiền của anh T như sau:

H dùng điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng hồng tạo tài khoản zalo tên “Cây công trình”, H tự giới thiệu mình tên là Nguyễn Văn Phi rồi gửi hình ảnh 02 cây vú sữa, 05 cây băng lăng và 01 cây khế cho anh T, anh T đồng ý mua. H cung cấp tài khoản số 101006697199 tên Nguyễn Văn Phi mở tại ngân hàng Vietinbank - NH TMCP Công Thương Việt Nam rồi yêu cầu anh T chuyển tiền đặt cọc để mua cây vào số tài khoản này thì H mới chuyển cây. Do tin tưởng, anh T đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản tên Phi theo yêu cầu của H (BL 83, 86, 87), cụ thể:

- Ngày 04/11/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 10.000.000 đồng (01 lần 5.000.000 đồng và 01 lần 5.000.000 đồng) (BL 69, 70).

- Ngày 06/11/2022 chuyển số tiền 10.000.000 đồng (BL 68).

- Ngày 11/11/2022 chuyển số tiền 15.000.000 đồng (BL 67).

- Ngày 15/11/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng (01 lần 5.000.000 đồng và 01 lần 10.000.000 đồng) (BL 65, 66).

- Ngày 16/11/2022 chuyển số tiền 30.000.000 đồng (BL 64).

- Ngày 19/11/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng (01 lần 20.000.000 đồng và 01 lần 10.000.000 đồng) (BL 62, 63).

- Ngày 23/11/2022 chuyển số tiền 30.000.000 đồng (BL 61).

- Ngày 25/11/2022 chuyển số tiền 10.000.000 đồng (BL 60).

- Ngày 26/11/2022 chuyển số tiền 5.000.000 đồng (BL 59).

- Ngày 27/11/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 70.000.000 đồng (01 lần 30.000.000 đồng và 01 lần 40.000.000 đồng) (BL 57, 58).

- Ngày 04/12/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng (01 lần 30.000.000 đồng và 01 lần 10.000.000 đồng) (BL 55, 56).

- Ngày 06/12/2022 chuyển số tiền 70.000.000 đồng (BL 54).

- Ngày 12/12/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 19.000.000 đồng (01 lần 1.000.000 đồng và 01 lần 18.000.000 đồng) (BL 52, 53).

- Ngày 14/12/2022 chuyển số tiền 20.000.000 đồng (BL 51).

Tổng cộng, từ ngày 04/11/2022 đến ngày 14/12/2022, với tài khoản zalo “Cây công trình” H đã nhận từ anh T số tiền là 374.000.0000 đồng nhưng H không chuyển cây cho anh T.

Ngoài ra, H dùng điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ tạo tài khoản zalo tên “Cây cổ thụ khủng”, H giới thiệu mình tên là Bùi Minh Tuấn rồi gửi hình ảnh 01 cây khế và 01 cây vú sữa chu vi gốc là 350 cm (hoành 350) để bán cho anh Tuấn, anh T đồng ý mua. Do tin tưởng anh T đã nhiều lần chuyển tiền đến các số tài khoản do H cung cấp để đặt cọc, cụ thể:

Ngày 13/11/2022 chuyển 02 lần với tổng số tiền 23.000.000 đồng (01 lần 10.000.000 đồng và 01 lần 13.000.000 đồng) đến tài khoản số 040050144511 tên Bùi Minh Tuấn mở tại ngân hàng Sacombank (BL 49, 50, 93, 94).

Ngày 14/11/2022 chuyển số tiền 10.000.000 đồng và ngày 17/11/2022 chuyển số tiền 17.000.00 đồng đến tài khoản số 6626262686868 tên Nguyễn Văn Tới mở tại ngân hàng MB bank (BL 46, 47, 82).

Ngày 19/11/2022 chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản số 21410003787188 tên Nguyễn Thị Thanh mở tại ngân hàng BIDV (BL 48, 88 đến 90).

Tổng cộng, từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, với tài khoản zalo “Cây cổ thụ khủng” H đã nhận từ anh T số tiền là 60.000.0000 đồng nhưng H không chuyển cây cho anh T.

Đến ngày 14/12/2022 anh Tuấn phát hiện hai tài khoản zalo “Cây công trình” và “Cây cổ thụ khủng” nói trên là cùng một người, anh Tuấn yêu cầu H chuyển trả lại tiền hoặc chuyển cây nhưng H không thực hiện và chặn số liên lạc của anh Tuấn, ngày 23/02/2023 anh T đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Qua Công tác truy tìm, Công an huyện Đất Đỏ đã đưa Đỗ Văn H về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên.

* Tang vật, vật chứng thu giữ của vụ án: Anh Mai Ngọc Nam đã giao nộp cho Cơ quan Công an 06 tờ giấy A4 thể hiện cuộc nói chuyện với tài khoản zalo tên “Cây cổ thụ khủng”; Trần Quốc T đã giao nộp 01 tờ giấy A4 chụp mặt trước tờ căn cước công dân mang tên Bùi Minh Tuấn và 25 tờ giấy A4 có nội dung sao kê những lần chuyển tiền của T vào các tài khoản theo yêu cầu của H; Thu giữ của Đỗ Văn H 01 tờ giấy A4 chụp lại facebook tên “Bằng Lăng Laos” và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng hồng (imei: 355358082862528) có sim số 0337804020 (số sêri sim: 8984048000905569774). Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ đã bị hư nên H đã bỏ đi cùng với 02 sim rác nên Công an không thu giữ được (BL 16 đến 21).

Qua xác minh, Bùi Minh Tuấn - chủ tài khoản số 040050144511 mở tại ngân hàng Sacombank; Nguyễn Văn Tới - chủ tài khoản số 6626262686868 mở tại ngân hàng MB bank; Nguyễn Thị Thanh - chủ tài khoản số 21410003787188 mở tại ngân hàng BIDV và Nguyễn Văn Phi - chủ tài khoản số 101006697199 mở tại ngân hàng Vietinbank - NH TMCP Công Thương Việt Nam, tất cả đều không biết H sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Ngày 10/5/2023, ông Đỗ Văn Nhỏ (là cha của H) đã bồi thường cho anh T số tiền 434.000.000 đồng. Hiện anh T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự. Anh T đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H. Ông Nhỏ không yêu cầu H bồi thường lại số tiền 434.000.000 đồng cho ông Nhỏ (BL 71, 72, 81).

Đối với 06 tờ giấy A4 thể hiện cuộc nói chuyện của Nam với zalo tên “Cây cổ thụ khủng”; 01 tờ giấy A4 chụp mặt trước tờ căn cước công dân mang tên Bùi Minh Tuấn, 25 tờ giấy A4 có nội dung sao kê những lần chuyển tiền của T và 01 tờ giấy A4 chụp lại facebook tên “Bằng Lăng Laos” được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã chuyển 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng hồng (imei: 355358082862528) có sim số 0337804020 (số sêri sim: 8984048000905569774) đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ để lưu giữ chờ xử lý.

Tại cáo trạng số 41/CT-VKSĐĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo H mức án từ 5 (Năm) năm đến 6 (Sáu) năm tù. Tịch thu sung công quỹ điện thoại di động, tịch thu tiêu huỷ 01 sim.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố: Với ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài, bằng thủ đoan gian dối bị cáo tạo tài khoản trên mạng xã hội, gửi hình và thông tin giả về cây cảnh làm cho bị hại tin tưởng bị cáo kinh doanh cây cảnh thật. Bị hại đã mua của bị cáo 2 cây vú sữa, 5 cây bằng lăng và 1 cây khế, chuyển tiền cho bị cáo nhiều lần tổng số tiền là 374.000.000đ; Khi chưa bị phát hiện bị cáo tiếp tục tạo tài khoản khác và bán cho bị hại thêm 01 cây khế và 01 cây vú sữa nhận tiền bị hại nhiều lần tổng cộng là 60.000.000đ. Sau khi nhận tiền bị cáo không chuyển giao cây cảnh mà chặn số liên lạc, chiếm đoạt tiền của bị hại. Hội đồng xét xử qua tiến hành tranh tụng công khai tại phiên tòa, xét lời khai của bị cáo, lời trình bày của bị hại phù hợp với nhau, phù hợp với chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ như: Bản phô tô ảnh chụp của cây cảnh, ảnh chụp màn hình tin nhắn qua điện thoại, Ủy nhiệm chi các lần nhận tiền từ tài khoản tại Ngân hàng; Biên bản tạm giữ đồ vật. Bị cáo đã có hành vi gian dối làm cho bị hại tin đó là sự thật, đã tự nguyện giao tiền cho bị cáo để bị cáo chiếm đoạt tiêu xài cá nhân, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại lên đến 434.000.000đ, đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Đủ cơ sở khẳng định bản cáo trạng số 41/2023/CT-VKSĐĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi pham tội của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 2 lần đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị phát hiện tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thiệt thiệt hại khắc phục hậu quả; Bị hại đã có đơn bãi nại xin gảm nhẹ hình phạt, gia đình của bị cáo có công với cách mạng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: 01 (Một) Điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 Plus màu vàng hồng ( imei: 355358082862528 đã qua sử dụng không khởi động máy được) bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công; 01 (Một) sim số 0337804020 (số seri sim: 8984048000905569774) không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

1/- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H (Tên gọi khác: Beo) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Beo) 5 (Năm) năm tù thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 25/02/2023).

2/- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3/- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) Điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 Plus màu vàng hồng (imei: 355358082862528 đã qua sử dụng không khởi động máy được)

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) sim số 0337804020 (số seri sim: 8984048000905569774)

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ theo biên bản giao nhận vật chứng số 42/BB ngày 04/7/2023).

4/- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/-Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 28/7/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận bản án, hoặc bản án được cấp tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ