- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gậy thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hoài Â, Ngô Tấn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂ DÂ THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày 16 - 02 - 2023 |
NHÂ DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂ DÂ THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nh dÂ:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng XuÂ;
2. Bà Dƣơng Thị Bạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nh d thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nh d thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xu S - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nh d thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 375/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Ngô Tấn Đ, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2003 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cƣ trú: Khóm 3, phƣờng L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nơi tạm trú: Số 4/155, tổ 10, khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 0/12; d tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Minh T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2022. Có mặt.
2. Nguyễn Hoài Â, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2000 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: Số 53, khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; d tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Trần Ngọc D, sinh năm 1963; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2023. Có mặt.
- Bị hại: Ông Hồ Ngọc T, sinh năm 1980; nơi cƣ trú: Thôn V, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Minh T, sinh năm 1972; nơi cƣ trú: Khóm 3, phƣờng L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Có mặt.
2. Ông Trần Trọng N, sinh năm 1979; nơi cƣ trú: Số 18B/24, khu phố 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
3. Ông Phạm Thành L, sinh năm 1993; nơi cƣ trú: 81/3 khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
4. Ông Trần Văn S, sinh năm 2000; nơi cƣ trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: 81/3 khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Phạm Thanh L, sinh năm 1981. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 26/3/2022, Phạm Thành L rủ Nguyễn Hoài  (là em vợ của L) đến phòng trọ của L tại địa chỉ số 81/3 khu phố T, phƣờng An T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống bia, tại đây L rủ thêm Trần Văn S và ông Hồ Ngọc T ở chung cơ sở trọ trên cùng ăn uống chung. Trong lúc ăn uống bia thì L có nói đến việc hôm trƣớc bị chủ nhà trọ nhắc nhở vì việc mở nhạc lớn, L cho rằng do T là ngƣời đã báo chủ trọ nên giữa L và T xảy ra cự cãi, T bỏ về phòng. Khoảng 20 phút sau, T mở cửa phòng nhắc nhở L, S,  về việc ăn uống ồn ào không cho ngƣời khác ngủ, hai bên lại xảy ra cự cải qua lại, sau đó cả nhóm giải tán. S đi về phòng trọ ngủ, còn L và  đi về nhà của  tại địa chỉ 53, khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/3/2022, S nghe đƣợc T nói chuyện với ai đó qua điện thoại với nội dung kêu ngƣời đến đánh L và  nên S nhắn tin nhắn thoại qua ứng dụng mạng xã hội Zalo thông báo L biết thì L có trả lời để lên đánh T trƣớc.  nghe đƣợc nội dung nói chuyện giữa L và S nên  nói để gọi điện thoại rủ Ngô Tấn Đđến hỗ trợ nhƣng L không đồng ý và nói chuyện của mình thì tự giải quyết đi, sau đó L đi vào phòng ngủ.  ở ngoài một mình sử dụng điện thoại gọi cho Đ đến đánh T thì Đ đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô biển số 61V1-7055 đi đến nhà của  trên đƣờng đi đến khu vực đƣờng An Thạnh 06, Đ dừng xe lại nhặt 02 viên gạch ống loại 04 lỗ để lên xe rồi tiếp tục điều khiển đến nhà của Â. Khi đến nơi, Đchở  ngồi phía sau xe mô tô chỉ đƣờng cho Đđến phòng trọ của T tại địa chỉ 81/3 khu phố Thạnh Lộc, phƣờng An Thạnh. Tại đây, Đcầm trên tay hai viên gạch ống đi lại trƣớc cửa phòng trọ số 4, dùng gạch đập vào kính cửa làm bể kính, dùng ch đạp vào cửa làm cánh cửa mở ra, rồi xông vào trong phòng dùng gạch đánh khoảng 4 cái vào ngƣời ông T,  đứng ngoài thấy vậy nên chạy vào can ngăn kéo Đra khỏi phòng. Thời điểm này, S đang ở trong phòng trọ số 5 nghe thấy tiếng động nên mở cửa ra thì thấy L đang đi bộ từ ngoài cổng nhà trọ vào nên cùng L,  đẩy Đra ngoài cổng nhà trọ, Đđiều khiển xe mô tô của mình rời khỏi hiện trƣờng. T đƣợc L và S đƣa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dƣơng để điều trị vết thƣơng. Nhận đƣợc tin báo Công an phƣờng An Thạnh đến hiện trƣờng đƣa L, Â, S về trụ sở làm việc. Đến 17 giờ ngày 27/3/2022 cùng ngày, do biết sự việc đã bị phát hiện nên Ngô Tấn Đđến Công an phƣờng An Thạnh, thành phố Thuận An để đầu thú và khai nhận toàn bộ vi phạm tội của mình.
Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích 341/2022/GĐPY ngày 12/5/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận thƣơng tích của ông Hồ Ngọc T:
- 01 vết thƣơng vùng thái dƣơng phải 4x0,3cm.
- 01 vết thƣơng sau vai phải 3x0,5cm, sẹo lành.
- Gãy xƣơng bả vai phải, đã cal.
- 01 vết thƣơng má phải 5,5x0,1cm.
- 01 vết thƣơng môi trên bên phải 2,6x0,2cm, gãy mất răng số 1.1,1.2, 2.1, 2.2, 4.2 (chƣa lắp răng giả), lung lay răng 3.1, 4.1
Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 22% theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo thông tƣ số: 22/2019/TT-BYT do Bộ y tế ban hành ngày 28/8/2019 về việc “Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y tâm thần”.
Đối với Phạm Thành L quá trình điều tra xác định có mâu thuẫn với ông T nhƣng việc  rủ Đđánh ông T thì L không tham gia, không bàn bạc, không hỗ trợ gì và cũng không biết Đlà ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đủ căn cứ xử lý là có căn cứ.
Đối với Trần Văn S, quá trình điều tra xác định S có thông báo cho L biết việc ông T kêu ngƣời đánh L nhƣng không có mục đích rủ L đánh T. Việc  rủ Đđánh ông T thì S không biết, không bàn bạc, không hỗ trợ gì, thời điểm ông T bị đánh S đang ngủ trong phòng và cũng không biết Đlà ai nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An không đủ căn cứ xử lý là có căn cứ.
Cáo trạng số 359/CT-VKS-TA ngày 15/12/2022 của Viện Kiểm sát nh d thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Ngô Tấn Đ, Nguyễn Hoài  về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nh thÂ: Các bị cáo có nh th tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài  từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Ngô Tấn Đtừ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm d sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại. Các bị cáo đã liên đới bồi thƣờng cho bị hại Hồ Ngọc T số tiền 26.000.000 đồng. Bị hại yêu cầu bồi thƣờng tổng số tiền 102.000.000 đồng (một trăm lẻ hai triệu đồng) là tiền chi phí điều trị thƣơng tích (có hóa đơn, chứng từ kèm theo) đƣợc khấu trừ vào số tiền mà bị cáo Nguyễn Hoài Â, Ngô Tấn Đđã bồi thƣờng, số tiền còn lại là 76.000.000 đồng (bảy mƣơi sáu triệu đồng). Các bị cáo, bị hại thống nhất thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thƣờng cho ông Hồ Ngọc T số tiền 38.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị trả 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F1S, kiểu máy A160, màu hồng cho ông Trần Văn S và trả 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3S, kiểu máy RMX 2185, màu xanh cho ông Phạm Thành L.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) viên gạch ống loại 04 lỗ kích thƣớc (08x18) cm; 02 (hai) cái răng thu giữ tại hiện trƣờng.
- Đề nghị tịch thu nộp ng sách Nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Realme C11, kiểu máy RMX 2185 màu xanh thu giữ của bị cáo Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5, kiểu máy CPH 1723 màu hồng thu giữ của bị cáo Â.
- Đề nghị giao cho Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, gắn biển số: 61V1-7055, số khung: RLCS5C6309Y-270838; số máy: 5C63270893 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng bị hại trình bày: Bị cáo  là em vợ của Phạm Thành L, L là ngƣời ở chung dãy nhà trọ với ông Hồ Ngọc T,  thƣờng xuyên đến chơi tại dãy trọ nên ông T biết, riêng bị cáo Đthì ông T không quen biết. Vào ngày 25/3/2023 do phòng trọ của L ăn nhậu gây ồn ào tại khu trọ nên ông T có báo chủ trọ ra nhắc nhở thì L không hài lòng và có lớn tiếng qua lại. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 27/3/2022 các bị cáo gây thƣơng tích cho ông Hồ Ngọc T, khi ông T đang ngủ say thì bị xông vào gây thƣơng tích nhƣ nội dung bản cáo trạng. Ông T yêu cầu mỗi bị cáo phải bồi thƣờng số tiền 38.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Tấn Đ, Nguyễn Hoài  khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo đã liên đới bồi thƣờng cho bị hại Hồ Ngọc T số tiền 26.000.000 đồng. Số tiền bị hại yêu cầu bồi thƣờng số tiền còn lại là 76.000.000 đồng (bảy mƣơi sáu triệu đồng). Các bị cáo, bị hại thống nhất thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thƣờng cho ông Hồ Ngọc T số tiền 38.000.000 đồng. Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình khi đêm đã khuy, bị hại đang ngủ đã dùng gạch ống đánh vào ngƣời bị hại, bị hại không biết và không thể chống cự đƣợc là rất nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Lời nói sau cùng, các bị cáo rất  hận về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo xin lỗi bị hại và xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Quá trình tố tụng các bị cáo Ngô Tấn Đ, Nguyễn Hoài  đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 02 giờ 10 phút ngày 27/3/2022, tại phòng trọ số 4 của cơ sở trọ tại địa chỉ số 81/3, khu phố Thạnh Lộc, phƣờng An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi ông Hồ Ngọc T đang nằm ngủ thì các bị cáo Ngô Tấn Đ, Nguyễn Hoài  sử dụng 02 viên gạch ống loại 04 lỗ kích thƣớc (08x18)cm là hung khí nguy hiểm đánh 04 cái trúng vào vùng vai phải, vùng mặt của ông T gây thƣơng tích. Bản kết luận giám định thƣơng tích số 341/2022/GĐPY ngày 12/5/2022 của Trung tâm Giám định Pháp y tỉnh Bình Dƣơng, kết luận tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên của Hồ Ngọc T là 22%, gồm các vết thƣơng: 01 vết thƣơng vùng thái dƣơng phải 4x0,3cm, vết thƣơng sau vai phải, 3x0,5cm, sẹo lành. Gãy xƣơng bả vai phải, đã cal. Vết thƣơng má phải 5,5x0,1cm. vết thƣơng môi trên bên phải 2,6x0,2cm, gãy mất răng 1.1,1.2, 2.1, 2.2, 4.2 (chƣa lắp răng giả), lung lay răng 3.1, 4.1.
Hành vi của các bị cáo Ngô Tấn Đ, Nguyễn Hoài  đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nh d thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Các bị cáo nhận thức hành vi dùng hai viên gạch ống loại 04 lỗ kích thƣớc (08x18) cm là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thƣơng tích là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhƣng vẫn cố ý phạm tội. Giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì lớn nhƣng các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thƣơng tích là thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn nên cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nh phát sinh mâu thuẫn và nh th của từng bị cáo.
Trong vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Hoài  là ngƣời rủ rê, khởi xƣớng; bị cáo Ngô Tấn Đlà ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của các bị cáo là ngang nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Ngô Tấn Đ, Nguyễn Hoài  xông vào phòng dùng hung khí đánh bị hại lúc bị hại đang ngủ say không thể tự vệ đƣợc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả một phần nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Tấn Đra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm d sự: Tại phiên tòa các bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bồi thƣờng cho bị hại số tiền 102.000.000 đồng, khấu trừ số tiền mà các bị cáo đã bồi thƣờng là 26.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thƣờng số tiền còn lại là 76.000.000 đồng và thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thƣờng cho bị hại số tiền 38.000.000 đồng (ba mƣơi tám triệu đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F1S, kiểu máy A160, màu hồng tạm giữ của Trần Văn S và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3S, kiểu máy RMX 2185, màu xanh tạm giữ của Phạm Thành L, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nh của ông S và ông L không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho họ.
- Đối với 02 (hai) viên gạch ống loại 04 lỗ kích thƣớc (08x18)cm là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 (hai) cái răng thu giữ tại hiện trƣờng, quá trình điều tra xác định là răng của bị hại T bị Đđánh gãy nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Realme C11, kiểu máy RMX 2185 màu xanh của bị cáo Ngô Tấn Đ, 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5, kiểu máy CPH 1723 màu hồng của bị cáo Nguyễn Hoài  là phƣơng tiện các bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ng sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, gắn biển số: 61V1-7055, số khung: RLCS5C6309Y-270838; số máy: 5C63270893, quá trình điều tra xác định là phƣơng tiện bị cáo Ngô Tấn Đ sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, Đkhai nhận chiếc xe mô tô trên là của ông Ngô Minh TÂ, sinh năm 1972; nơi cƣ trú: Khóm 3, phƣờng L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (là cha ruột của Đ) cho Đmƣợn để đi công việc. Qua làm việc ông T khai nhận, chiếc xe mô tô trên do ông mua lại của một ngƣời (không nhớ nh thÂ, địa chỉ) khi mua xe không có làm giấy tờ mua bán, chƣa làm thủ tục sang tên theo quy định. Quá trình tra cứu phƣơng tiện tham gia giao thông cơ giới đƣờng bộ xác định chiếc xe mô tô Yamaha, loại Sirius, màu đen, gắn biển số: 61V1-7055 do ông Trần Trọng Nghĩa, sinh ngày 12/12/1979; nơi cƣ trú: 18B/24, khu phố 2, thị trấn Dầu Tiếng, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng đứng tên chủ sở hữu, qua làm việc ông Nghĩa trình bày đã bán xe mô tô trên nhƣng không làm hợp đồng mua bán, không nhớ nh thÂ, địa chỉ ngƣời mua, ông Nghĩa không có yêu cầu gì đối với chiếc xe mô tô trên nên cần tiếp tục giao cho Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí d sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hoài Â, Ngô Tấn Đ.
- Các Điều 587; 590 Bộ luật DÂ sự;
- Điều 109, Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Ngô Tấn Đ và Nguyễn Hoài  phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
- Xử phạt bị cáo Ngô Tấn Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2022
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài  03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2023.
2. Về trách nhiệm d sự:
Buộc bị cáo Ngô Tấn Đphải bồi thƣờng cho ông Hồ Ngọc T số tiền 38.000.000 đồng (ba mƣơi tám triệu đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Hoài  phải bồi thƣờng cho ông Hồ Ngọc T số tiền 38.000.000 đồng (ba mƣơi tám triệu đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 Bộ luật DÂ sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 (hai) viên gạch ống loại 04 lỗ kích thƣớc (08x18)cm;
- 02 (hai) cái răng thu giữ tại hiện trƣờng.
Tịch thu nộp vào ng sách Nhà nƣớc:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Realme C11, kiểu máy RMX2185 màu xanh của bị cáo Ngô Tấn Đ;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5, kiểu máy CPH1723 màu hồng của bị cáo Nguyễn Hoài Â.
- Trả lại cho ông Trần Văn S 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F1S, kiểu máy A160;
- Trả lại cho ông Phạm Thành L 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3S, kiểu máy RMX 2185, màu xanh tạm giữ;
- Giao cho Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử lý theo quy định của pháp luật 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, gắn biển số: 61V1-7055, số khung: RLCS5C6309Y-270838; số máy: 5C63270893.
(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/12/2022)
4. Về án phí:
Bị cáo Ngô Tấn Đphải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.900.000 đồng (một triệu, chín trăm ngàn đồng) án phí d sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Hoài  phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.900.000 đồng (một triệu, chín trăm ngàn đồng) án phí d sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết.
Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d sự thì ngƣời đƣợc thi hành án d sự, ngƣời phải thi hành án d sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án d sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d sự./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng;TÒA - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Lê Thị Thu |