vanban.org

Bản án 39/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Từ Đ : 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2021;

Xử phạt bị cáo Lâm Gia H : 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2021; Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Từ Đông - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Từ Đ : 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2021;
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HSST
Ngày: 16-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Vũ Thúy Hằng

2. Ông Hồ Văn Cảm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 866/2022/HSST ngày 28/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2023/QĐST-HS ngày 02/02/2023 đối với các bị cáo:

1. Từ Đ ; giới tính: Nam; sinh năm 1956; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số R, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Từ Đ và bà: Phan Thị N ; có vợ, chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2021 (Có mặt).

2. Lâm Gia H ; giới tính: Nam; sinh năm 1992; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số E, Phường N, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông: Lâm Q và bà Chu Phi L ; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2021 (Có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa:

1. Bà Nguyễn Thị Mai – Luật sư Công ty Luật TNHH - MTV Đức Danh – Đoàn luật Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lâm Gia H . Có mặt.

2. Ông Lê Tiến Mạnh – Luật sư của Công ty Luật TNHH VeGa – Đoàn luật Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Từ Đ và bị cáo Lâm Gia H . Có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Bà Chu Phi L , sinh năm 1956; Địa chỉ: 886/1 Nguyễn Chí Thanh, Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt. 2/ Lưu Văn , sinh năm 1983; cư trú: 488/2A/19 An Phú Tây, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 25/3/2021 tại giao lộ Hồng Bàng - Đỗ Thanh Ngọc, Phường 14, Quận 5, Công an Quận 5 tiến hành kiểm tra phát hiện đối tượng Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Từ Đ chạy xe gắn máy chở 02 thùng carton bên trong có 1000 bao thuốc lá hiệu Jet đã đưa Từ Đ về làm việc. Tại Cơ quan Công an, Từ Đ khai nhận: Từ Đ làm thuê cho đối tượng tên Lâm Phương (đang định cư tại Mỹ) với tiền công là 4,5 triệu đồng/tháng. Từ Đ có nhiệm vụ là cùng với Lâm Gia H (là cháu của đối tượng Lâm Phương) đi mua gom thuốc lá nhập lậu trên thị trường, đưa về cất giấu tại nhà mình hoặc nhà của Lâm Gia H , rồi tập kết tại kho của Công ty Phương Đạt, địa chỉ. số E4A/58 An Phú Tây, ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh để làm thủ tục xuất sang Mỹ cho ông Lâm Phương. Ngày 25/3/2021, theo lời dặn của đối tượng Lâm Phương thì Từ Đ đến gặp và nhận số tiền 50 triệu đồng từ Lâm Gia H rồi đến khu vực chợ Học Lạc, Quận 5 gặp một người phụ nữ tên thường gọi là “bà Chín” để mua 2000 bao thuốc lá hiệu Jet với giá 38 triệu đồng. Từ Đ đã chở về nhà mình tại 51/28 Ngô Quyền, Phường 6, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh cất giấu 1000 gói (02 thùng), khi quay lại chở tiếp 02 thùng nữa thì bị Công an phát hiện bắt giữ như trên. Công an Quận 5 đã tiến hành khám xét nhà của Từ Đ thu giữ 8.000 gói thuốc lá hiệu Jet; Khám xét khẩn cấp nhà của Lâm Gia H tại số 886/1 Nguyễn Chí Thanh, Phường 4, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh, Công an thu giữ 11.250 gói thuốc là hiệu 555. Tiến hành khám xét kho hàng của Công ty TNHH SX DV TM Phương Đạt tại số E4A/58 An Phú Tây, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh, Công an thu giữ thêm 5000 gói thuốc lá hiệu Jet và 12.000 gói thuốc lá hiệu 555. Ngày 31/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 5 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, ra Lệnh tạm giam đối với Tử Đông, Lâm Gia H về tội "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm". Do vụ án có yếu tố nước ngoài, nên vụ án được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Từ Đ khai nhận như nội dung trên. Đồng thời, Từ Đ khai: Từ Đ làm công cho Lâm Phương, nhưng Lâm Gia H (cháu ruột Phương) là người trực tiếp quản lý. Ông Phương là người gọi điện báo cho Từ Đ số lượng thuốc lá cần mua, Từ Đ sẽ đến gặp Lâm Gia H để nhận tiền và đi mua gom thuốc lá lậu trên thị trường đưa về nhà mình hoặc nhà của Lâm Gia H để cất giấu. Sau đó, thuê xe tải chuyển thuốc lá xuống kho của Công ty Phương Đạt tập kết. Từ Đ để các thùng chứa thuốc lá lẫn vào nhiều loại hàng hóa khác trong kho của Công ty Phương Đạt và nói với ông Lưu Văn Tín – Giám đốc Công ty Phương Đạt hàng gửi sang Mỹ là đồ nhựa.

Lâm Gia H khai: Hào là người nhận tiền từ ông Lâm Phương (thông qua dịch vụ ngân hàng) 03 lần với số tiền khoảng 01 tỷ đồng (45 000 USD) để mua thuốc lá cho ông Phương và được trả công 500/gói. Hào đã được ông Phương trả công 23.400.000 đồng. Số thuốc lá 12.250 gói hiệu 555 thu giữ tại nhà Hào mua để chuyển sang thuốc Mỹ cho Phương. Tuy nhiên, Hào khai việc chuyển thuốc lá sang Mỹ như thế nào thì Hào không rõ.

Ông Lưu Văn T – Giám đốc Công ty Phương Đ khai: Khoảng tháng 3/2020, ông Tín được người quen giới thiệu gặp Lâm Phương (tên thường gọi là Thành) để thỏa thuận bán cho Phương thùng carton rỗng theo số lượng, kích thước do Lâm Phương cung cấp và được đóng thành 20 thùng/cọc. Việc vận chuyển, làm thủ tục xuất khẩu do Lâm Phương tự liên hệ. Từ tháng 9/2020 đến trước ngày 25/3/2021, ông T đã đóng tổng cộng 04 container để xuất khẩu sang Mỹ cho Lâm Phương hàng hóa ngoài thùng carton rỗng như đã thỏa thuận thì ông Tín còn cho Từ Đ đóng thêm một số thùng hàng khác theo Đông nói là “đồ nhựa” để xuất sang Mỹ. Ngày 25/3/2021, Công an Quận 5 khám xét kho hàng của Công ty Phương Đạt phạt hiện trong kho có 20 thùng đựng 5000 bao thuốc lá nhập lậu hiệu Jet; 24 thùng dựng 12.000 bao thuốc lá nhập lậu hiệu 555. Ông Tin khai số hàng này là của Từ Đ mang đến kho gửi vào chiều 24/3/2021, Đông nói đây là đồ nhựa chuẩn bị xuất sang Mỹ. Bản thân ông Tín không kiểm tra bên trong thùng, nên không phát hiện Từ Đ chứa thuốc lá bên trong.

Bà Chu Phi Liên (mẹ ruột Lâm Gia H ) khai: Ngày 25/3/2021, Công an khám xét nhà của bà tại số 886/1 Nguyễn Chí Thanh, Phường 4, Quận 11 thu giữ 11.250 gói thuốc là hiệu 555. Bà Liên biết việc Lâm Gia H nhận tiền từ Lâm Phương (em chồng bà Liên) để đưa cho Từ Đ mua thuốc lá. Bản thân bà Liên không tham gia, bà đã nhiều lần khuyên nhủ Hào không làm việc vi phạm pháp luật.

Ông Châu Phi Thành khai: Ông chạy xe ôm nên Lâm Gia H có nhờ ông chở hàng, nhưng ông không biết đó là hàng gì.

Vật chứng: 8.000 gói thước lá hậu Jet thu giữ tại nhà Từ Đ ; 11.250 gói thuốc là hiệu 555 thu giữ tại nhà Lâm Gia H ; 5000 bao thuốc lá nhập lậu hiệu Jet và 12.000 bao thuốc lá nhập lậu hiệu 555 thu giữ tại kho của Công ty Phương Đạt.

Ngày 30/03/2021. Hiệp hội thuốc là Việt Nam có Công văn số 59/CV-2021-HHTLVN xác định số thuốc thu giữ là thuốc lá điếu nhập khẩu. Tại bản Cáo trạng số 520/CT-VKS-P1 ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố để xét xử đối với các bị cáo: Từ Đ , Lâm Gia H , về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án, trình bày lời luận tội khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; các điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 54; Điều 17 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Từ Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” Xử phạt bị cáo Lâm Gia H từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Các bị cáo không tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Từ Đ và bị cáo Lâm Gia H khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Từ Đ , Lâm Gia H là những người làm công cho đối tượng Lâm Ph , mặc dù biết rõ thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm, các hành vi vận chuyển, tàng trữ thuốc lá là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý tàng trữ số lượng thuốc lá đặc biệt lớn. Trong đó, Lâm Gia H (cháu đối tượng Lâm Phương) là người nhận tiền từ Lâm Phương, trực tiếp quản lý việc thu mua thuốc lá tại Việt Nam. Do đó, Lâm Gia H phải chịu trách nhiệm về toàn bộ thuốc lá thu giữ là: 36.250 bao (bao gồm 8.000 bao thu giữ tại nhà Từ Đ ; 11.250 bao thu giữ tại nhà Hào và 17.000 bao thu giữ tại Công ty Phương Đạt); Từ Đ chịu trách nhiệm về số lượng thuốc lá nhập lậu là 25.000 bao (bao gồm 8.000 bao thu giữ tại nhà Từ Đ và 17.000 bao thu giữ tại Công ty Phương Đạt).

Hành vi của các bị cáo Từ Đ và Lâm Gia H đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo:

Đối với bị cáo Từ Đ là người làm thuê cho đối tượng tên Lâm Phương (đang định cư tại Mỹ) với tiền công là 4,5 triệu đồng/tháng. Từ Đ có nhiệm vụ là cùng với Lâm Gia H đi mua gom thuốc lá nhập lậu trên thị trường, đưa về cất giấu tại nhà mình hoặc nhà của Lâm Gia H , để làm thủ tục xuất sang Mỹ cho Lâm Phương. Từ Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng thuốc lá nhập lậu là 25.000 bao mà bị cáo đã tàng trữ. Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn; đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt, xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo tuổi đã cao (67 tuổi) và chỉ là người làm thuê cho đối tượng Lâm Phương; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, như đề nghị của Viện kiểm sát.

Trong vụ án này bị cáo Lâm Gia H Hào là người nhận tiền từ Lâm Phương (thông qua dịch vụ ngân hàng) 03 lần với số tiền khoảng 01 tỷ đồng (45.000 USD) để mua thuốc lá cho Ph và được trả công 500/gói. Hào đã được Phương trả công 23.400.000 đồng. Số thuốc lá 12.250 gói hiệu 555 thu giữ tại nhà Hào mua để chuyển thuốc lá sang Mỹ cho Phương. Tuy nhiên, Hào khai việc chuyển thuốc lá sang Mỹ như thế nào thì Hào không rõ. Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn; đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt, xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 03 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo chỉ là người làm thuê cho đối tượng Lâm Phương; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, như đề nghị của Viện kiểm sát. Đối với Lâm Ph , hiện đang định cư tại Mỹ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều đã thu thập tài liệu thể hiện việc Lâm Ph đã nhiều lần nhắn tin, điện thoại cho Từ Đ , Lâm Gia H để chỉ đạo việc mua bán thuốc lá,…. Hiện nay, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp Hợp chủng quốc Hoa kỳ hỗ trợ xác minh hãng tàu,…nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tách ra để xử lý sau. Đối với Lưu Văn T – Giám đốc Công ty Phương Đ đã cho Từ Đ gửi 34 thùng hàng bên trong có chứa thuốc lá nhập lậu. Tuy nhiên, ông Tín không biết là hàng gì, nên chưa có căn cứ để xử lý. Đối với việc Tín giúp đóng 04 container xuất khẩu sang Mỹ cho Lâm Phương. Hiện nay, Cơ quan đang chờ kết quả xác minh để xem xét xử lý. Đối với bà Châu Phi L , ông Châu Phi Th , Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung, để điều tra làm rõ hành vi của bà L và ông Th , nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan công an thu giữ:

- 28 thùng giấy niêm phong đựng 13.970 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet (đã trừ 30 bao mẫu giám định) và 47 thùng giấy niêm phong đựng 23.230 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555(đã trừ 20 bao mẫu thẩm định). (Thực nhận 75 thùng Carton, 1 số thùng móp, bung bìa carton do va đập khi vận chuyển và bốc xếp) là hàng cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đương sự Từ Đ và mộc dấu tròn của Công an P.14/Q5, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng H , có số imei: 359229063850236, được phát hiện thu giữ của đương sự Từ Đ đã qua sử dụng, tình trạng đã cũ. Là các phương liên lạc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước

- 01 chiếc xe máy loại Yamaha Nouvo, biển số 59U1-988.16, số khung: B5607Y004492, số máy: 2B56004492, dung tích xilanh không xác định, là phương tiện vận chuyển, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong; 01 chiếc máy tính xách tay (laptop), tình trạng đã cũ, được niêm phong trong một túi xách màu đen có dán giấy niêm phong có chữ ký xác nhận của Lâm Gia H , là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 19.000.000 đồng thu giữ của Từ Đ chứng minh không liên quan đến phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án về tài sản.

- Ngoài ra cần tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền công trong 02 tháng là 9.000.000 đồng, mà Lâm Ph đã trả cho Từ Đ

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Từ Đ : 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2021;

- Xử phạt bị cáo Lâm Gia H : 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2021;

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự;

+ Buộc bị cáo Từ Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước (chưa nộp)

3. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu tiêu hủy: 28 thùng giấy niêm phong đựng 13.970 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet (đã trừ 30 bao mẫu giám định) và 47 thùng giấy niêm phong đựng 23.230 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555(đã trừ 20 bao mẫu thẩm định). (Thực nhận 75 thùng Carton, 1 số thùng móp, bung bìa carton do va đập khi vận chuyển và bốc xếp)

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng H , có số imei: 359229063850236, được phát hiện thu giữ của đương sự Từ Đ đã qua sử dụng, tình trạng đã cũ, được chứa trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đương sự Từ Đ và mộc dấu tròn của Công an P.14/Q5,

- 01 chiếc xe máy loại Yamaha Nouvo, biển số 59U1-988.16, số khung: B5607Y004492, số máy: 2B56004492, dung tích xilanh không xác định, là phương tiện vận chuyển, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong; ; 01 chiếc máy tính xách tay (laptop), tình trạng đã cũ, được niêm phong trong một túi xách màu đen có dán giấy niêm phong có chữ ký xác nhận của Lâm Gia H

- Trả lại: Bị cáo Từ đồng số tiền 19.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án về tài sản.

(Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2022/176 ngày 23/12/2021 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền vào tài khoản của Công an Quận 5, do Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam phát hành ngày 06/4/2021)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ