- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Dang T - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày: 27/3/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thuý.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiến, bà Lê Thị Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Dũng- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 03/02/2023 và các thông báo thay đổi thời gian, thông báo mở lại phiên tòa đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng T, sinh năm 1981. ĐKHKTT: Khu 2, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở: Số 2/45/253 N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 4/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đăng N và bà Hà Thị N. Có vợ là Nguyễn Thị M và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 19/10/2022. Có mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình L.
Đơn vị công tác: Đội Cảnh sát giao thông- trật tự Công an thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Ngƣời làm chứng: Ông Phạm Đình Đ, ông Phạm Văn S, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Doãn C, anh Hoàng Sơn G, anh Phạm Tất B (đều vắng mặt) và anh Nguyễn Trung A (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm bảo đảm trật tự an toàn giao thông theo Quyết định số 1552 ngày 26/9/2022 của Công an thành phố H, khoảng 6 giờ 30 phút ngày 11/10/2022, tổ công tác số 3 Đội Cảnh sát giao thông- trật tự Công an thành phố H gồm ông Phạm Đình Đ- tổ trưởng; ông Phạm Văn S, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Doãn C, ông Nguyễn Đình L là các tổ viên đều mặc trang phục Cảnh sát, đeo số hiệu Công an nhân dân theo quy định tiến hành tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên các đường 391- Ngã tư H- giao cắt đường sắt- cầu H- An T, thành phố H. Trong đó ông L làm nhiệm vụ tại điểm xử lý vi phạm tại sân trước cửa nhà văn hóa khu 4, phường T, thành phố H. Khoảng 8 giờ 50 phút cùng ngày, ông Đ và ông S làm nhiệm vụ kiểm soát lưu động trên đường N, hướng N đi L, đến đoạn ngã ba giao cắt với đường T thì phát hiện Nguyễn Trung A đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 34B4-280.10 nhưng không đội mũ bảo hiểm. Ông Đ tiến hành kiểm tra nhưng Trung A không xuất trình được giấy tờ nên đã yêu cầu Trung A đưa phương tiện về điểm xử lý tại sân trước cửa nhà văn hóa khu 4, phường T để xác minh, xử lý. Tại đây, Trung A gọi điện thoại nhờ bố đẻ là Nguyễn Đăng T mang giấy tờ xe mô tô đến. Khoảng 9 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, BKS 88S5-9602 đến đỗ ở sân trước cửa nhà văn hóa khu 4, phường T rồi đi đến đứng cạnh Trung A. T giới thiệu là bố của Trung A rồi nói với ông L “cho con tôi xin” và xuất trình đăng ký xe mô tô BKS 34B4-280.10, giấy chứng nhận bảo hiểm, căn cước công dân của Trung A. Khi ông Đ kiểm tra giấy tờ của Trung A thì T tiếp tục nói “cho con tôi xin”. Ông L trả lời: “Anh thông cảm. Tôi lập biên bản rồi”. T cầm lại giấy tờ, đi ra vị trí xe của Trung A, quay đầu xe mô tô BKS 34B4-280.10 và định dắt xe bỏ đi. Thấy vậy ông L ra giữ xe để yêu cầu Trung A ký vào biên bản vi phạm hành chính và tạm giữ phương tiện. T để lại xe mô tô BKS 34B4-280.10 rồi đi ra mở cốp xe mô tô BKS 88S5-9602 và lấy một con dao dài 41cm có lưỡi sắc nhọn bằng kim loại dài 29cm, bản rộng 2cm; chuôi bằng gỗ màu nâu dài 12cm, đường kính chuôi 03cm, tại vị trí tiếp giáp giữa lưỡi dao và chuôi dao có gắn một mảnh kim loại màu trắng dài 8cm, rộng 2cm. T cầm dao bằng tay phải, giơ lên cao và lao về phía ông L. Ông L bỏ chạy được khoảng 03m thì bị T chém 02 phát liên tiếp vào phía bả vai trái, sau đó đâm tiếp 01 phát vào đai thắt lưng da vị trí sau lưng ông L. Ông L bỏ chạy về phía bãi đất trống bên cạnh khu nhà văn hóa thì bị ngã. Trung A chạy ra ôm, can ngăn T lại. T nói với Trung A “mày dong xe về”. Trung A lưỡng lự không muốn dong xe về thì T quát “mày dong xe về” nên Trung A điều khiển xe mô tô BKS 34B4-280.10 bỏ đi. T vừa điều khiển xe mô tô BKS 88S5-9602, vừa cầm dao chỉ về phía tổ công tác đe dọa để tổ công tác không ngăn cản việc T bỏ đi. Hậu quả: Ông Nguyễn Đình L bị 02 vết xước da song song với nhau, khoảng cách giữa hai vết là 3cm, chiều dài mỗi vết là 8cm, chiều hướng kéo dài từ đầu mỏm vai trái xuống phía dưới bắp tay theo hướng chéo từ sau về trước.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao; trả lại ông L một bộ quần áo cảnh sát giao thông màu vàng; trả lại chị Nguyễn Thị Mai chiếc xe mô tô BKS 88S5-9602 và bàn giao chiếc xe mô tô BKS 34B4-280.10 cho Đội Cảnh sát giao thông- trật tự Công an thành phố H để xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 23/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố Nguyễn Đăng T về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự (viết tắt: BLHS).
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận có xảy ra giằng co, to tiếng; có cầm dao giơ lên cao khi ông L không cho bị cáo mang xe mô tô của Trung A về nhưng bị cáo không dùng dao đuổi, chém ông L.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Đăng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội. Xử phạt Nguyễn Đăng T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/10/2022. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 41cm. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo:
Nguyễn Đăng T thừa nhận có hành vi cầm dao giơ lên cao khi bị ông Nguyễn Đình L ngăn cản không cho mang xe mô tô của Nguyễn Trung A về nhưng không thừa nhận có hành vi cầm dao đuổi, chém ông L. Tại phiên tòa Trung A xác nhận bị cáo cầm dao dọa, đuổi theo ông L. Những người trực tiếp chứng kiến sự việc gồm ông Phạm Đình Đ, ông Phạm Văn S, anh Hoàng Sơn G và anh Nguyễn Tất Bình đều trình bày sau khi bị ông L ngăn cản không cho mang xe mô tô của Trung A về thì T đã lấy trong cốp xe mô tô của T 01 con dao lưỡi bằng kim loại, chuôi bằng gỗ rồi cầm dao bằng tay phải, giơ lên cao và lao về phía ông L. Khi ông L bỏ chạy thì T đuổi theo và chém 02 phát vào bả vai trái của ông L, đâm 01 phát vào đai thắt lưng da ở phía sau lưng ông L. Tại thời điểm đó, ngoài bị cáo thì không có ai khác xảy ra va chạm với ông L. Lời khai của những người nêu trên phù hợp với dấu vết để lại trên cơ thể ông L là 02 vết xước da song song với nhau, chiều hướng kéo dài từ đầu mỏm vai trái xuống phía dưới bắp tay. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ ngày 11/10/2022, tại sân trước cửa nhà văn hóa khu 4, phường Tân Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Đăng T đã dùng 01 con dao dài 41cm, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ đuổi, chém ông Nguyễn Đình L là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông- trật tự Công an thành phố H để cản trở việc ông L lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý đối với hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ của con trai T là Nguyễn Trung A.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng vũ lực để cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý đối với bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử sẽ xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về xử lý vật chứng: 01 con dao dài 41cm, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm, không có giá trị kinh tế nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về tố tụng và các vấn đề khác: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp. Ông Nguyễn Đình L từ chối giám định tỷ lệ thương tích và tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên Hội đồng xé xử không xem xét. Nguyễn Trung A không có hành vi cản trở tổ công tác xử lý việc Trung A vi phạm Luật giao thông đường bộ nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Trung A là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Xử phạt Nguyễn Đăng T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/10/2022.
3. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 41cm; lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại sáng màu lẫn màu nâu dài 29cm, bản rộng 02cm; chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 12cm, đường kính chuôi 03cm; tại vị trí tiếp giáp giữa lưỡi và chuôi có gắn một mảnh kim loại màu trắng dài 08cm, rộng 02cm (theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Buộc Nguyễn Đăng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - CQ CSĐT Công an TP. Hải Dương; - Bộ phận HSNV Công an TP. Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - CQ THAHS Công an TP. Hải Dương; - CQ THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng Tòa án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phƣơng Thuý |