- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoàng L, Lê Thanh H1 phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày: 04-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
2. Bà Trần Thị Năm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần h c M i – Th
T án nhân dân huyện Tân Th nh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn T – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 12 năm 2023 t i trụ sở T án nhân dân huyện Tân Th nh tiến hành xét xử sơ thẩm hình sự thụ l số: 34/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyếtđ vụ án r xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối v i các bị cáo:
1. Tr ơng Hoàng L; Sinh ngày: 25/02/1998; Nơi sinh: huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi c trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Gi i tính: Nam; Con của ông Tr ơng Văn H và bà Ngô Thị B; Bị cáo ch có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 03/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án ph t tù vào ngày 15/10/2022, ch đ ợc xóa án tích; Nhân thân: Ngày 14/3/2017 bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục t i x , ph ờng, thị trấn (Quyết định số 37/QĐ-UBND) trong thời h n 03 tháng, chấp hành xong ngày 04/8/2017. Ngày 25/10/2017 bị Công an huyện C xử ph t hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 01/QĐ-XPHC); Ngày 23/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử l hành chính đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 18/QĐ-TA) trong thời h n 02 năm, chấp hành xong Quyết định vào ngày 22/4/2019; Ngày 22/6/2020 bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử ph t hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 16/QĐ-XPHC), đ nộp ph t xong; Ngày 18/9/2020, bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục t i x , ph ờng, thị trấn (Quyết định số 150/QĐ-UBND) trong thời h n 03 tháng; Bị cáo bị t m giữ kể từ ngày 06/10/2023, chuyển t m giam kể từ ngày 12/10/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đ ng bị t m giam t i Nhà t m giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt t i phiên tòa).
2. Lê Thanh H1; Sinh ngày: 06/7/2000; Nơi sinh: huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi c trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con của ông Lê Thanh P và bà Nguyễn Thị Bé N; Bị cáo ch có vợ, con; Tiền sự: Vào ngày 20/6/2023, bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính số 49/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất m túy” v i số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đóng ph t ngày 12/10/2023; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt t m giam kể từ ngày 12/10/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đ ng bị t m giam t i Nhà t m giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt t i phiên t ).
- Bị hại:
+ Ông Trần Văn 1, sinh năm: 1993. Nơi c trú: Ấp H, x N, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt)
+ Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm: 1972. Nơi c trú: Ấp G, x N, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt)
+ Ông Lê Minh C, sinh năm: 1978. Nơi c trú: Ấp K, x T, huyện M, tỉnh Long An (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Hồ Qu ng K, sinh năm: 2004. Nơi c trú: Ấp B, x , huyện C, tỉnh Tiền Gi ng (Có mặt).
+ Ông Hồ Văn T1, sinh năm: 1976. Nơi c trú: Ấp B, x , huyện C, tỉnh Tiền Gi ng (Có mặt).
+ Bà Ngô Thị B, sinh năm: 1975. Nơi c trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Có mặt).
+ Bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1983. Nơi c trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Gian (Có mặt).
+ Anh Võ Văn 2, sinh năm 1991. Nơi c trú: Ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Gian (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên t , nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh s u:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, Lê Thanh H1 điều hiển xe mô tô, biển số 63 1-571.71 củ H1, chở Tr ơng Hoàng L ngồi phí s u đi từ huyện C, tỉnh Tiền Gi ng đến huyện T, tỉnh Long An để xin việc làm. Khi điều hiển xe mô tô l u thông ng ng nhà củ nh Trần Văn 1, t i ấp H, x N, huyện T, tỉnh Long An, L nhìn thấy có 02 con gà trống củ nh P1 đ ng úp trong bội bằng sắt để tr c nhà nh P1 hông có ng ời trông giữ. L nảy sinh định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên nói v i H1: “H i con gà cặp lộ ì , hông có i coi ghé bắt”. H1 đồng và dừng xe mô tô l i tr c nhà nh P1, L xuống xe đi bộ l i lén lút lấy trộm 02 con gà đem r xe mô tô đ H1 giấu vào trong áo củ H1 01 con gà trống, giấu vào trong áo L 01 con gà trống. S u đó, H1 tiếp tục điều hiển xe mô tô l u thông theo đ ờng đ n bờ Bắc K đi về h ng thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Đến hoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, H1 điều hiển xe mô tô chở L l u thông ng ng nhà bà Lê Thị Hồng T, ở ấp G, x N, huyện T, tỉnh Long An, L nhìn thấy 01 máy hàn điện màu c m đậm để tr c hiên nhà hông có ng ời trông giữ, L nảy sinh định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên nói v i H1 “có cái máy hàn ì , nhà hông thấy ng ời, qu y đầu xe l i” H1, trả lời “ừ”, H1 điều hiển xe mô tô chở L quay đầu xe l i, H1 đậu phí tr c hàng rào nhà bà T, L xuống xe mô tô lén lút đi vào trong nhà bà T lấy trộm 01 máy hàn điện đem r xe. H1 điều hiển xe mô tô chở L ngồi phí s u và tài sản trộm cắp đ ợc tiếp tục l u thông vào chợ T2, huyện T, v ng r Quốc lộ F l u thông về h ng thị x K, tỉnh Long An để tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp. Đến hoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, hi điều hiển xe mô tô l u thông trên Quốc lộ F đến nhà ông Lê Minh C, ở ấp K, x T, huyện M, tỉnh Long An, L nhìn thấy 01 bình ắc quy N70 nh n hiệu Đồng N i và 01 bình ắc quy N70 nh n hiệu GS để trong hiên nhà hông có ng ời trông giữ. H1 dừng xe mô tô đậu ngoài lộ, L xuống xe mô tô đi vào trong nhà lấy trộm 02 bình ắc quy đem r xe mô tô để lên yên xe mô tô ở giữ H1 và L, H1 điều hiển chở tất cả tài sản trộm cắp đ ợc về nhà củ H1 t i hu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Gi ng để cất giấu. Đến ngày 09/9/2023, L bán máy hàn điện cho 01 ng ời đàn ông ( hông rõ nhân thân, l i lịch) đ ợc 600.000 đồng. Đến ngày 10/9/2023, L và H1 chở 02 bình ắc quy đến nhà Hồ Qu ng K t i Ấp B, x , huyện C, tỉnh Tiền Gi ng bán đ ợc số tiền 1.200.000 đồng. S u đó, L và Hải L1 bán 02 con gà trống cho 01 ng ời đàn ông ( hông rõ nhân thân, l i lịch) đ ợc 600.000 đồng. L1 và H1 cùng sử dụng số tiền 2.400.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Qu điều tr Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 tự nguyện h i nhận toàn bộ hành vi nh trên.
T i Bản Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐG ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T. Kết luận: 01 máy hàn điện, đ qu sử dụng có giá trị là 671.600 đồng; 01 con gà trống màu trắng nặng 03kg có giá trị là 210.000 đồng; 01 con gà trống màu vàng nặng 2,2kg có giá trị 154.000 đồng. Tổng cộng tài sản có giá trị 1.035.600 đồng.
T i Bản Kết luận định giá tài sản số 12/KL-ĐGTS ngày 25/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M. Kết luận: 01 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai lo i 70AH, đ qu sử dụng có giá trị là 550.000 đồng; 01 bình ắc quy N70 nhãn hiệu GS, đ qu sử dụng có giá trị là 450.000 đồng. Tổng cộng tài sản có giá trị 1.000.000 đồng.
T i bản Cáo tr ng số: 34/CT-VKSTT, ngày 07/11/2023 củ Viện iểm sát nhân dân huyện Tân Th nh truy tố các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định t i hoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
T i phiên toà, đ i diện Viện iểm sát vẫn giữ nguyên qu n điểm truy tố đối v i bị cáo đồng thời phân tích tính chất và m c độ nguy hiểm cho x hội do hành vi vi ph m pháp luật mà các bị cáo gây r , các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình ph t chính, đ i diện Viện iểm sát đề nghị đối v i từng bị cáo nh s u:
Căn c hoản 1 Điều 173; điểm b, s hoản 1 Điều 51; hoản 2 Điều 51; điểm h hoản 1 Điều 52; các Điều38, 50, 58 Bộ luật hìnhĐề nghị xử ph t bị cáo Tr ơng Hoàng L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Căn c hoản 1 Điều 173; điểm b, i, s hoản 1 Điều 51; các Điều38, 50, 58 Bộ luật hìnhĐề nghị xử ph t bị cáo Lê Thanh H1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về vật ch ng trong vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ Luật hình sự. Đ i diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà n c 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, lo i: V rio 125, màu đen – trắng, biển số 63P1-57171, số khung MH1JMD112NK034079, số máy JMD1E1034292 do Lê Thanh H1 đ ng tên sở hữu do đây là tài sản hợp pháp của bị cáo H1 sử dụng để thực hiện hành vi ph m tội.
Về hình ph t bổ sung: Đề nghị hông áp dụng hình ph t bổ sung đối v i các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đ i diện Viện iểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục t m giữ số tiền 3.200.000đ mà gi đình củ bị cáo L và bị cáo H1 đ nộp bồi th ờng thiệt h i th y cho các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
T i phiên toà, bị h i Lê Minh C trình bày ông đ đ ợc Cơ qu n Cảnh sát điều tr gi o trả l i tài sản mà các bị cáo lấy trộm. Hiện n y ông C không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Bị h i Trần Th nh 3 vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo trả giá trị 02 con gà trống bị các bị cáo chiếm đo t v i số tiền 2.000.000đ. Ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n Hồ V và Hồ Qu ng K yêu cầu các bị cáo có nghĩ vụ trả số tiền 1.200.000đ đ trả cho các bị cáo để mu 02 bình ắc quy mà các bị cáo đ lấy trộm củ ông Lê Minh C nh ng ông T1 và anh K hông biết tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có. Các bị cáo đ tác động ng ời thân thích nộp tiền bồi th ờng thiệt h i th y cho các bị cáo tổng số tiền là 3.200.000đ. Anh Trần Th nh 3 và ông Hồ Văn T1, anh Hồ Qu ng K không có
iến, yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Bị h i Lê Thị Hồng T không yêu cầu bồi th ờng thiệt h i trong quá trình điều tr . Tuy nhiên, t i phiên t bà T yêu cầu các bị cáo bồi th ờng chiếc máy hàn điện mà các bị cáo đ trộm cắp củ bà T và bán cho ng ời đàn ông hông rõ l i lịch nên hông thu hồi đ ợc. T i phiên t , bị cáo L đ tác động m củ bị cáo là bà Ngô Thị B, bị cáo H1 đ tác động m củ bị cáo H1 là bà Nguyễn Thị Bé N thỏ thuận và bồi th ờng xong cho bà T. Hiện n y bà T hông có iến, yêu cầu gì thêm.
Ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n đến vụ án ông Võ Văn 2 trình bày: Ông đ ợc bà Nguyễn Thị Bé N, là m củ bị cáo H1 đến liên hệ nộp tiền bồi th ờng hắc phục hậu quả trong vụ án hình sự, số tiền nộp 1.600.000đ là do bà Nguyễn Thị Bé N đ cho nh nhờ nộp giùm nên nh hông có iến, yêu cầu gì. Bà Ngô Thị B, là m củ bị cáo L đ nộp bồi th ờng thiệt h i th y cho bị cáo L số tiền 1.600.000đ. Bà Nguyễn Thị Bé N là m củ bị cáo H1 đ bỏ r số tiền 1.600.000đ để nộp bồi th ờng thiệt h i th y cho bị cáo H1. T i phiên t , bà B và bà N hông yêu cầu bị cáo về số tiền này.
T i phiên t bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 thừ nhận hành vi ph m tội nh Cáo tr ng củ Viện iểm sát đ truy tố, các bị cáo hông có iến tr nh luận.
T i lời nói s u cùng, các bị cáo trình bày trong thời gi n qu các bị cáo đ ăn năn, hối hận về hành vi củ mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình ph t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ đ ợc thẩm tr , xét hỏi, tr nh tụng t i phiên t , Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về hành vi tố tụng củ Cơ qu n điều tr Công n, Viện iểm sát nhân dân huyện trong quá trình điều tr , truy tố đ đ ợc thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định củ Bộ luật tốhình sự. Quá trình điều tr và t i phiên t , bị cáo và những ng ời th m gi tố tụng hác hông có ng ời nào có
iến hoặc hiếu n i về hành vi, quyết định củ Cơ qu n tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng củ Cơ qu n tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
Về ng ời th m gi tố tụng: Trong quá trình T án chuẩn bị xét xử, các bị cáo đ tác động ng ời thân thích trong gi đình đề nghị cho nộp tiền bồi th ờng hắc phục hậu quả th y cho các bị cáo và nộp t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th nh. Đồng thời, t i phiên t , nh Hồ Qu ng K trình bày số tiền 1.200.000đ mà nh trả cho các bị cáo để mu 02 bình ắc quy (do trộm cắp mà có) là tiền củ ông Hồ Văn T1 (ch củ nh K). Do đó, Hội đồng xét xử bổ sung những ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n trong vụ án so v i quyết định đ vụ án r xét xử, đó là bà Ngô Thị B, bà Nguyễn Thị Bé N, anh Võ Văn P2, ông Hồ Văn T1. T i phiên t có mặt đầy đủ ng ời th m gi tố tụng trong đó có những ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n đến vụ án m i đ ợc bổ sung nên đủ điều iện xét xử vụ án.
Trong quá trình điều tr , truy tố và xét xử t i phiên t các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 h i nhận hành vi ph m tội củ bị cáo đ thực hiện đúng nh nội dung bản Cáo tr ng đ nêu, phù hợp v i lời h i củ bị cáo t i Cơ qu n điều tr và các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tr t i phiên t . Có đủ cơ sở xác định đ ợc: Từ hoảng 07 giờ đến 08 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, Tr ơng Hoàng L và Lê Thanh H1 lợi dụng sơ hở củ chủ sở hữu tài sản, liên tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể nh s u: Trộm cắp 02 con gà trống của anh Trần Văn 1 trị giá 364.000 đồng, t i ấp H, x N, huyện T, tỉnh Long An; trộm cắp 01 máy hàn điện màu c m củ bà Lê Thị Hồng T trị giá 671.600 đồng, t i ấp G, x N, huyện T, tỉnh Long An; trộm cắp 01 bình ắc quy nh n hiệu Đồng N i lo i 70AH, đ qu sử dụng; 01 bình ắc quy N70 nh n hiệu GS, đ qu sử dụng củ nh Lê Minh C trị giá 1.000.000 đồng, t i ấp K, x T, huyện M, tỉnh Long An. Tổng cộng tài sản mà các bị cáo trộm cắp 03 lần nêu trên trị giá 2.035.600 đồng.
Xét thấy, các bị cáo Tr ơng Hoàng L và Lê Thanh H1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 03 lần trong thời gi n từ hoảng 07 giờ đến 08 giờ 30 phút ngày 08/9/2023 nên xác định là ph m tội liên tục, ế tiếp nh u về mặt thời gi n theo h ng dẫn t i Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 củ T án nhân dân tối c o về việc thông báo ết quả giải đáp trực tuyến một số v ng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính. Do đó, tổng cộng các lần các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để xử l trách nhiệm hình sự đối v i các bị cáo.
Hành vi củ các bị cáo đ xâm ph m đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp củ ng ời hác đ ợc pháp luật bảo vệ. T i thời điểm thực hiện hành vi chiếm đo t tài sản, các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận th c đ ợc hành vi củ mình là trái pháp luật nh ng vẫn cố thực hiện. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đo t liên tục, ế tiếp nh u về mặt thời gi n có giá trị trên 2.000.000 đồng, d i 50.000.000đ đồng nên hành vi ph m tội củ các bị cáo thuộc tr ờng hợp ph m tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo thống nhất chí, là đồng ph m trong thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, tr c hi thực hiện hành vi ph m tội, các bị cáo hông có bàn b c, câu ết chặt chẽ, đề r ế ho ch, chuẩn bị công cụ, ph ơng tiện thực hiện hành vi ph m tội, hông có phân công v i tr củ từng bị cáo cũng nh bàn b c ph ơng án tiêu thụ tài sản nên hông thuộc tr ờng hợp ph m tội có tổ ch c theo quy định t i hoản 2 Điều 17 Bộ luật hìnhsự.
Nh vậy, Cáo tr ng củ Viện iểm sát nhân dân huyện Tân Th nh, tỉnh Long An truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn c , đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi ph m tội củ các bị cáo đ xâm ph m tài sản thuộc quyền quản l , sở hữu củ ng ời hác đ ợc pháp luật bảo vệ; thể hiện th c xem th ờng pháp luật củ các bị cáo; gây mất n ninh trật tự đị ph ơng, n toàn x hội, b c xúc trong nhân dân. Do đó, hành vi ph m tội “Trộm cắp tài sản” củ các bị cáo cần phải đ ợc xử ph t nghiêm minh theo quy định củ pháp luật m i có tác dụng giáo dục riêng và ph ng ngừ chung trên cơ sở xem xét v i tr củ từng bị cáo hi đồng ph m trong thực hiện hành vi ph m tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân củ các bị cáo.
Về v i tr củ từng bị cáo:
Bị cáo Tr ơng Hoàng L là ng ời rủ rê bị cáo Lê Thanh H1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và cũng là ng ời trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản v i v i tr là ng ời thực hành. Do đó, cần quyết định m c hình ph t đối v i bị cáo L c o hơn bị cáo H1.
Bị cáo Lê Thanh H1, hi đ ợc L rủ rê thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hông biết huyên ngăn mà đồng cùng thực hiện, H1 trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản v i v i tr là giúp s c. Do đó, cần quyết định m c hình ph t đối v i bị cáo H1 thấp hơn bị cáo L.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Tr ơng Hoàng L có 01 tiền án: Ngày 03/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án ph t tù vào ngày 15/10/2022, ch đ ợc xóa án tích. Đến ngày 08/9/2023 bị cáo L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đủ yếu tố xử lý hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” nên ph m tội thuộc tr ờng hợp “Tái ph m”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái ph m” quy định t i điểm h hoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Thanh H1 hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đ thành hẩn h i báo, ăn năn hối cải và đ tác động ng ời thân nộp tiền bồi th ờng thiệt h i th y cho các bị cáo mỗi bị cáo 1.600.000đ để bồi th ờng cho bị h i Trần Th nh 3 2.000.000đ và ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n Hồ Qu ng K, Hồ V 1.200.000đ. Do đó, các bị cáo đ ợc xem xét giảm nh trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài r , xét thấy bị cáo L đầu thú nên đ ợc xem xét giảm nh trách nhiệm hình sự quy định t i hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối v i bị cáo Lê Thanh H1 ph m tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng nên đ ợc xem xét giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định t i điểm i hoản 1 Điều 51 BLHS.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, cụ thể nh s u:
Bị cáo Tr ơng Hoàng L có 01 tiền án và đ nhiều lần bị xử ph t vi ph m hành chính, áp dụng biện pháp xử l vi ph m hành chính, cụ thể nh s u:
Tiền án: Ngày 03/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án ph t tù vào ngày 15/10/2022, ch đ ợc xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 14/3/2017 bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục t i x , ph ờng, thị trấn (Quyết định số 37/QĐ-UBND) trong thời h n 03 tháng, chấp hành xong ngày 04/8/2017. Ngày 25/10/2017 bị Công an huyện C xử ph t hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 01/QĐ-XPHC); Ngày 23/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử l hành chính đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 18/QĐ-TA) trong thời h n 02 năm, chấp hành xong Quyết định vào ngày 22/4/2019; Ngày 22/6/2020 bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử ph t hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 16/QĐ-X HC), đ nộp ph t xong; Ngày 18/9/2020, bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục t i xã, ph ờng, thị trấn (Quyết định số 150/QĐ-UBND) trong thời h n 03 tháng.
Bị cáo Lê Thanh H1 có 01 tiền sự: Vào ngày 20/6/2023, bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính số 49/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất m túy” v i số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đóng ph t ngày 12/10/2023.
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có tuổi đời c n trẻ nh ng đều có nhân thân xấu, các bị cáo hông lo làm ăn chân chính mà liên tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản củ nhiều ng ời nhằm thỏ m n nhu cầu chi xài cá nhân. Qu đó, thể hiện th c xem th ờng pháp luật củ bị cáo. Do đó, cần cách ly bị cáo r hỏi x hội một thời gi n để bị cáo cải t o thành ng ời công dân tốt, có ích cho x hội và nhằm đảm bảo răn đe, ph ng ngừ chung, góp phần đấu tr nh ph ng chống tội ph m.
Xét lời đề nghị củ Kiểm sát viên về áp dụng căn c pháp luật, về hình ph t áp dụng đối v i các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về hình ph t bổ sung: Theo quy định hoản 5 ĐiềuBLHS, ng ời ph m tội c n có thể bị áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo hông có tài sản riêng, hông có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, xét thấy hông áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối v i các bị cáo.
Đối v i hành vi củ những ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n đến vụ án là nh Hồ Quang K, ông Hồ Văn T1 đ mu 01 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai lo i 70AH, đ qu sử dụng và 01 bình ắc quy N70 nhãn hiệu GS, đ qua sử dụng do Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 bán nh ng nh K và ông T1 không biết rõ nguồn gốc tài sản ở đâu mà L, H1 có. Bị cáo L và H1 không nói cho anh K biết là tài sản do L, H1 trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của Hồ Quang K, Hồ V không có dấu hiệu ph m tội “Tiêu thụ tài sản do ng ời khác ph m tội mà có” theo quy định t i Điều 323 Bộ luật Hình sự nên Cơ qu n Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.
Về vật ch ng trong vụ án:
Đối v i 01 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai lo i 70AH, đ qu sử dụng; 01 bình ắc quy N70 nhãn hiệu GS, đ qu sử dụng. Tất cả đều là tài sản hợp pháp của bị h i Lê Minh C. Cơ qu n Cảnh sát điều tra Công an huyện T đ ra Quyết định xử lý vật ch ng trả l i tài sản trên cho ông Lê Minh C là đúng quy định pháp luật.
Đối v i 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, lo i: V rio 125, màu đen – trắng, biển số 63P1-57171, số khung MH1JMD112NK034079, số máy JMD1E1034292 do Lê Thanh H1 đ ng tên, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi ph m tội “Trộm cắp tài sản”. T i phiên tòa, bà Nguyễn Thị Bé N trình bày bà mua nhằm mục đích sử dụng chung trong gi đình nh ng cho H1 đ ng tên. Hội đồng xét thấy bà N không có tài liệu, ch ng c nào ch ng minh cho trình bày là có cơ sở, đồng thời bị cáo ch có giấy phép lái xe nh ng đ đ ng tên ch ng nhận đăng xe. Trong quá trình điều tra bị cáo xác định xe mô tô là tài sản hợp pháp của bị cáo. Do đó, có cơ sở xác định xe mô tô nêu trên thuộc sở hữu hợp pháp củ bị cáo và bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi ph m tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà n c.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy r Cơ qu n Cảnh sát điều tr đ thu hồi đ ợc tài sản 01 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai lo i 70AH, đ qu sử dụng; 01 bình ắc quy N70 nhãn hiệu GS, đ qu sử dụng và đ trả l i cho chủ sở hữu hợp pháp là bị h i Lê Minh C, ông C không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Đối v i anh Hồ Quang K, Hồ V đ mu bình ắc quy mà các bị cáo trộm cắp của bị h i Lê Minh C, Cơ qu n Cảnh sát điều tr đ thu hồi đ ợc tài sản và đ trả l i tài sản cho bị h i Lê Minh C xong. Ông T1 đ đ nh K số tiền 1.200.000đ để trả cho các bị cáo, do tài sản đ bị thu hồi nên ông T1 yêu cầu các bị cáo trả l i 1.200.000đ. Bị h i Trần Thanh P3 bị các bị cáo trộm 02 con gà trống, anh P3 yêu cầu bồi th ờng 2.000.000đ. Trong thời gian Tòa án chuẩn bị xét xử, gi đình của các bị cáo đ ợc bị cáo tác động đ nộp tiền bồi th ờng thay cho các bị cáo t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th nh. Anh Trần Thanh P3, anh Hồ Quang K không yêu cầu gì thêm nên hông đề cập. T i phiên tòa các bị cáo thống nhất v i yêu cầu bồi th ờng của anh P3, ông T1. Xét thấy, sự tự nguyện thỏa thuận của các bị cáo v i anh P3, ông T1 là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ông Lê Minh C và anh Hồ Quang K đ ợc quyền liên hệ Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Th nh để nhận tiền bồi th ờng thiệt h i tài sản mà gi đình của các bị cáo đ nộp thay.
T i phiên tòa, bị h i Lê Hồng T yêu cầu bồi th ờng thiệt h i đối v i chiếc máy hàn mà bà T bị các bị cáo trộm cắp vào ngày 08/9/2023 và đ đ ợc những ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan Ngô Thị B, Nguyễn Thị Bé N bồi th ờng xong. Bà T không có ý kiến, yêu cầu gì thêm nên hông đề cập.
Những ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan Ngô Thị B, Nguyễn Thị Bé N đ đ ợc các bị cáo tác động, nhờ bồi th ờng khắc phục hậu quả cho các bị h i Trần Thanh P3, Lê Thị Hồng T và ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n đến vụ án Hồ V, Hồ Văn K1. T i phiên tòa bà Ngô Thị B, Nguyễn Thị Bé N không có ý kiến, yêu cầu gì đối v i các bị cáo về số tiền đ bồi th ờng thay nên hông đề cập.
Về án phí: Các bị cáo mỗi ng ời phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy b n Th ờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình ph t chính:
2.1. Căn c khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự;
Xử ph t bị cáo Tr ơng Hoàng L 01 (Một) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ (06/10/2023)
2.2. Căn c khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự;
Xử ph t bị cáo Lê Thanh H1 06 (Sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giam (12/10/2023)
3. Căn c Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tiếp tục t m giam các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 45 (Bốn m ơi lăm) ngày ể từ ngày tuyên án (04/12/2023) để đảm bảo thi hành án.
4. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ Luật hình sự; khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ Luật dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 v i anh Trần Thanh P3, ông Hồ Văn T1 về việc các bị cáo bồi th ờng cho anh P3 số tiền 2.000.000đ (H i triệu đồng), bồi th ờng cho ông T1 số tiền 1.200.000đ (Một triệu h i trăm nghìn đồng).
Anh Trần Thanh P3 đ ợc quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th nh nhận số tiền 2.000.000đ (H i triệu đồng), ông Hồ Văn T1 đ ợc quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th nh nhận số tiền 1.200.000đ (Một triệu h i trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001454 ngày 30/11/2023 (Do bà Ngô Thị B nộp thay) và biên lai thu tiền số 0001456 ngày 01/12/2023 (Do bà Nguyễn Thị Bé N nộp thay)
5. Về xử lý vật ch ng: Căn c Đều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà n c 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, lo i: V rio 125, màu đen – trắng, biển số 63P1-57171, số khung MH1JMD112NK034079, số máy JMD1E1034292 và giấy ch ng nhận đăng xe số 63 011606, biển số 63P1-57171, cấp ngày 11/01/2023 do Lê Thanh H1 đ ng tên sỡ hữu.
Xe mô tô hiện nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th nh t m giữ. Giấy ch ng nhận đăng xe hiện l u hồ sơ chính vụ án.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ b n Th ờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Tr ơng Hoàng L, Lê Thanh H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (H i trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, bị h i có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ng ời có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n đến vụ án có mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên qu n đến quyền lợi, nghĩ vụ của mình trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An - VKSND huyện Tân Thạnh; - Công an huyện Tân Thạnh; - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |