vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 22/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế S 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, về tội:“Trộm cắp tài sản”; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thế S cho UBND xã QV, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế S phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế S 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, về tội:“Trộm cắp tài sản”; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày: 22 – 03 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đạt Nghiệm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Hằng, nghề nghiệp: Giáo viên.

2. Ông Nguyễn Vinh Hiến, nghề nghiệp: Cán bộ.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh– Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thế S (tên gọi khác: Không); sinh ngày 29/5/2006; nơi sinh: Tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn 2, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Thế T, sinh năm 1980 và bà: Vũ Thị N, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo S: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1984 (Mẹ đẻ S), có mặt;

Nơi cư trú: Thôn 2, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Người bào chữa cho bị cáo S: Bà Vũ Thị H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Nghệ An- Chi nhánh TGPL số 1, có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1970, có mặt;

Nơi cư trú: Thôn 6, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Thế B, sinh ngày 26/4/2009, có mặt;

- Người đại diện hợp pháp của B: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1984 (Mẹ đẻ B), có mặt;

Cùng nơi cư trú: Thôn 2, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

2. Đậu Đức P, sinh ngày 29/9/2009, có mặt;

- Người đại diện hợp pháp của P: Anh Đậu Đức H1, sinh năm 1980 (Bố đẻ P), có mặt;

Cùng nơi cư trú: Thôn 1, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

3. Lê Tiến Đ, sinh ngày 15/7/2008, có mặt;

Nơi cư trú: Thôn 11, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Người đại diện hợp pháp của Đức: Chị Trần Thị Ngọc T1, sinh năm 1977 (Giáo viên trường THCS QV), có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 3, xã QT, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

4. Lê Trung N, sinh ngày 09/01/2008, vắng mặt;

Nơi cư trú: Thôn 10, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Người đại diện hợp pháp của N: Chị Trần Thị Ngọc T1, sinh năm 1977 (Giáo viên trường THCS QV), có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 3, xã QT, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

5. Vũ Thị Thanh P2, sinh ngày 10/7/2009, vắng mặt;

Nơi cư trú: Thôn 16, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Người đại diện hợp pháp của Phương: Anh Trương Xuân H2, sinh năm 1980 (Giáo viên trường THCS QV), có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 5, xã QH, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

6. Lê Thị Hải A, sinh ngày 13/5/2009, có mặt;

- Người đại diện hợp pháp của An: Anh Lê Văn Đ3, sinh năm 1984 (Bố đẻ An), có mặt;

Cùng nơi cư trú: Thôn 4, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

7. Đậu Thị Khánh A1, sinh ngày 02/9/2008, vắng mặt;

- Người đại diện hợp pháp của An: Anh Đậu Đức P2, sinh năm 1985 (Bố đẻ An), vắng mặt;

Cùng nơi cư trú: Thôn 7, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do biết Đậu Đức P (sinh ngày 29/8/2009, trú tại thôn 1, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) và một số học sinh khác bị các giáo viên thu điện thoại di động vì sử dụng trong giờ học; 18 giờ ngày 31/12/2022, khi P đến nhà mình chơi, Nguyễn Thế S rủ P và em trai trai ruột là Nguyễn Thế B (sinh ngày 26/4/2009, trú tại thôn 2, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đến phòng làm việc của anh Nguyễn Văn S (sinh năm 1970, trú tại thôn 6, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) là Hiệu trưởng Trường Trung học Cơ sở (THCS) xã QV đề lấy trộm tài sản thì P và B đều đồng ý. S hỏi P: “Mi có cây xà cạy không, về lấy rồi ta vô Trường cấp hai QV ta cạy”. Nghe vậy, P về nhà lấy 01 thanh sắt màu nâu, kích thước (72 x 2)cm đưa đến nhà S. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, S cầm thanh sắt và chiếc balo màu đen, nhãn hiệu SPORT rồi cùng với P và B đi hai xe đạp đến Trường THCS xã QV (thuộc thôn 8, xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) để lấy trộm tài sản. Khi đến gần nơi, các đối tượng trèo qua tường phía Tây Trường học rồi di đến phòng làm việc của anh Nguyễn Văn S. B đứng ngoài canh gác, còn S và P dùng thanh sắt mang theo để cạy cửa. Sau khi mở được cửa, S và P vào phòng mở tủ gỗ thì thấy ở trong có 05 chiếc điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno3, khuyết vỏ mặt sau; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám và 01 máy tính bảng (Ipad) nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen). S lấy toàn bộ số tài sản trên bỏ vào balo mang theo người. Cả 3 đối tượng cùng nhau trèo lên mái nhà vệ sinh phía Tây để nghỉ. Khoảng 30 phút sau, S nói với P và B: “Ta quay lại lấy cây laptop trong phòng, nãy thấy mà chưa lấy”. P và B đều đồng ý rồi cùng S quay lại. B đứng ngoài quan sát, S và P đi vào phòng làm việc của anh Nguyễn Văn S tiếp tục lấy 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu DeLL để trên bàn làm việc rồi bỏ vào balo mang theo người. Sau khi lấy được tài sản, ba đối tượng đi về nhà S thống nhất sẽ cho B 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; trả lại cho P chiếc điện thoại di động OPPO của P; số tài sản còn lại sẽ bán và chia đều cho ba người. Tuy nhiên, B và P chưa lấy điện thoại; toàn bộ số tài sản các đối tượng lấy trộm được để tại phòng ngủ của S.

Đến 11 giờ 30 phút ngày 01/01/2023, Nguyễn Thế S đến Công an xã QV xin đầu thú và giao nộp toàn bộ số tài sản trên; 01 balo màu đen, nhãn hiệu SPORT và một thanh sắt màu nâu, kích thước (72 x 2)cm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐGTS, ngày 15/01/2023 của Hội đồng định giá UBND huyện Quỳnh Lưu xác định:

- 01 máy tính xách tay (Laptop), nhãn hiệu DELL Inspirion 5593, mã ORC: 70196703, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 8.000.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng Gold, bị vô hiệu hóa, đã qua sử dụng, không kiểm tra được số IMEI, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.600.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 860749056618912, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 600.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno3, khuyết vỏ mặt sau, kiểu máy CPH2043, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 600.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

- 01 máy tính bảng (Ipad) nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen, IMEI: 863724054635496, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.200.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, kiểu máy CPH2083, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.000.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, số Seri: F18QJUXZGRYD, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 800.000 đồng, vào ngày 31/12/2022;

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Thế S chiếm đoạt ngày 31/12/2022 phải chịu trách nhiệm hình sự là 13.800.000đ (Mười ba triệu tám trăm nghìn đồng).

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 máy tính xách tay (Laptop), nhãn hiệu DELL Inspirion 5593, mã ORC: 70196703, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng Gold, bị vô hiệu hóa, đã qua sử dụng, không kiểm tra được số IMEI; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 860749056618912, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno3, khuyết vỏ mặt sau, kiểu máy CPH2043, đã qua sử dụng; 01 máy tính bảng (Ipad) nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen, IMEI: 863724054635496, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, kiểu máy CPH2083, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, số Seri: F18QJUXZGRYD, đã qua sử dụng;

Tất cả các vật chứng trên đã được trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn S.

- 01 thanh sắt màu nâu, kích thước (72 x2) cm và 01 chiếc ba lô màu đen nhãn hiệu SPORT, đã qua sử dụng; hiện đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu bảo quản, chờ xử lý;

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn S đã nhận lại toàn bộ tài sản; không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 51/CT-VKS-QL, ngày 24/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo Nguyễn Thế S, về tội: "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90 và Điều 91 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế S từ 06 - 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12- 18 tháng. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghéo, nên không phạt tiền bổ sung.

- Về vật chứng: 01 máy tính xách tay (Laptop), nhãn hiệu DELL Inspirion 5593; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng Gold; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno3; 01 máy tính bảng (Ipad) nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám; ngày 31/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn S toàn bộ số tài sản trên;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt màu nâu, kích thước (72 x2) cm và 01 ba lô màu đen, nhãn hiệu SPORT, vì không còn giá trị sử dụng.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn S đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp; không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét;

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo phát biểu:

- Về hình phạt: Nhất trí với bản Cáo trạng về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, nhưng đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHDS; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Sau khi phạm tội đã đầu thú, ăn năn hối cải; mục đích phạm tội để lấy tiền ăn chơi, đua đòi. Nên áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đề nghị HĐXX áp dụng: khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt cải tạo không giam giữ. Về án phí HSST: Bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Nguyễn Thế S đã biết sai, hứa sửa chữa và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế S khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 31/12/2022, tại Trường THCS xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, bị cáo đã dùng 01 thanh sắt cạy cửa phòng làm việc của anh Nguyễn Văn S là Hiệu trưởng Trường THCS xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Văn S 01 chiếc máy tính xách tay, 01 chiếc máy tính bảng và 05 chiếc điện thoại di động khác nhau, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 13.800.000đ (mười ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai có tại hồ sơ; phù hợp với thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản người bị hại khai báo bị mất; sự phù hợp, thống nhất của các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thế S đã phạm vào tội:“Trộm cắp tài sản”. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; khi thực hiện tội phạm, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên có hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ yếu tố cấu thành tội:“Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS; như Cáo trạng đã truy tố là đúng.

. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục và an ninh trật tự công cộng. Bị cáo biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng do ăn chơi đua đòi mà nhất thời phạm tội. Nhận thấy, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; khi phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi, 07 tháng, 02 ngày và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm; thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá ½ thời hạn mà điều luật quy định; thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội và cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về khấu trừ thu nhập: Không khấu trừ thu nhập đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

. Đối với Đậu Đức P và Nguyễn Thế B tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Quỳnh Lưu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản” đối với P và B là đúng pháp luật.

. Về vật chứng: Ngày 31/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả lại cho anh Nguyễn Văn S toàn bộ số tài sản bị Nguyễn Thế S trộm cắp, là có căn cứ.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn S đã nhận lại tài sản; không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét;

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế S thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định điểm đ khoản 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế S 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, về tội:“Trộm cắp tài sản”; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã QV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thế S cho UBND xã QV, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Biện pháp tư pháp:

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt màu nâu, kích thước (72 x2) cm và 01 ba lô màu đen, nhãn hiệu SPORT (đặc điểm, chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng được lập vào ngày 24/02/2023, giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ