vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đồng Ngọc T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Ngọc Tuân - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đồng Ngọc T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày 12 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Đô

2. Ông Đồng Văn Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2023 đối với:

*Các bị cáo:

1. Họ và tên: Đồng Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1993;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đình Cẩu, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đồng Ngọc Tuấn, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; gia đình có 02 anh em, bản thân bị cáo là con thứ nhất; có vợ: Đồng Thị Cẩm Lệ, sinh năm 1997 và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2022 , hiện đang tạm giam tại NH tạm giữ Công an huyện Lạng Giang. (Có mặt tại phiên toà)

2. Họ và tên: Nguyễn Đức H, tên gọi khác: Không; sinh năm 2001;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Phan Thượng, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1978; gia đình có 02 anh em, bản thân bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2022 , hiện đang tạm giam tại NH tạm giữ Công an huyện Lạng Giang. (Có mặt tại phiên toà)

3. Họ và tên: Dương Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 2001;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Cầu Đen, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Dương Văn Nhiệm, sinh năm 1974 và bà Đặng Thị Mận, sinh năm 1982; gia đình có bị cáo là con duy nhất; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2022 , hiện đang tạm giam tại NH tạm giữ Công an huyện Lạng Giang. (Có mặt tại phiên toà)

* Bị hại:

Anh Đỗ Văn An, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ dân phố Đồng 2, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

- Anh Ngô Tiến Khuynh, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Thanh Lương, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Văn Cần, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Tân Mỹ, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Nguyễn Thị Chung, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Bằng, xã Nghĩa Hoà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Trịnh Phương Tới, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Bằng, xã Nghĩa Hoà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

(Bị hại, người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đồng Ngọc T, sinh năm 1993 ở thôn Đình Cẩu, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Đức H, sinh năm 2001 ở thôn Phan Thượng, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Dương Văn T, sinh năm 2001 ở thôn Cầu Đen, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước.

Buổi tối ngày 08/10/2022, T rủ và mời H, T uống bia tại quán bia Kim Ấm do anh Trịnh Văn Tới, sinh năm 1991 (vợ là chị Nguyễn Thị Chung, sinh năm 1991) mở bán tại địa chỉ thôn Bằng, xã Nghĩa Hoà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Cùng thời điểm T, H, T ngồi uống bia tại quán Kim Ấm, ở bàn bên cạnh cách khoảng 6-7m có anh Đỗ Văn An, sinh năm 1992 ở tổ dân phố Đồng 2, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang cũng ngồi uống bia cùng bạn là Ngô Tiến Khuynh, sinh năm 1992 ở thôn Thanh Lương, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Văn Cần, sinh năm 1992 ở thôn Tân Mỹ, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Đỗ Văn An đi quan bàn của Đồng Ngọc T đang ngồi uống bia để đi vào nH vệ sinh, T thấy An nhìn mình không nói gì, T cho rằng An như vậy là có thái độ vênh váo với mình nên T bảo T sang gọi An ra ngoài sân bê tông phía trước quán bia Kim Ấm để nói chuyện. Sau đó T và H đi ra sân bê tông phía trước quán bia Kim Ấm để đợi An. T đi sang chỗ An đang ngồi uống bia và nói “anh ơi anh ra ngoài này nói chuyện, em bảo cái này” thì An đi cùng T ra sân bê tông cách quán bia Kim Ấm khoảng hơn 20m, anh Cần cũng đi theo phía sau. Khi thấy An đến, T hỏi An “Mày có thích vênh mặt lên không?” An không nói gì, T liền tát vào mặt An hai cái nên An đã dùng tay đẩy T ra thì T từ đằng sau của An dùng tay phải tát và đấm vào đầu của An 4- 5 cái, lúc này H cũng xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào mặt của An. T, T, H liên tục cùng nhau dùng tay, chân đánh vào người An, An không chống cự lại mà chỉ dùng hai tay của mình ôm đầu, cúi người xuống, sau đó H dùng chân phải đá một phát trúng vào mồm An khiến An ngã úp mặt xuống nền bê tông và hai đầu gối quỳ xuống mặt nền bê tông, chảy nhiều máu rồi ngất tại chỗ. Thấy An bị đánh, anh Cần chạy vào quán gọi Khuynh, khi Khuynh và Tới đến can ngăn thì nhóm T, T và H không đánh anh An nữa. Anh An được Khuynh, Cần, Tới nâng dậy lau vết máu rồi Khuynh và Cần đưa An về nH. Còn T, T, H sau khi đánh An xong thì tiếp tục vào ngồi uống bia và đi về nH.

Do bị đau nên buổi sáng ngày 09/10/2022 anh Khuynh và anh Cần đã đưa An đến Trung tâm y tế huyện Lạng Giang để khám và điều trị đồng thời An đã làm đơn trình báo gửi Công an xã Nghĩa Hoà. Anh Đỗ Văn An khám và điều trị tại Trung tâm y tế huyện Lạng Giang từ ngày 09/10/2022 đến ngày 10/10/2022 thì xin ra viện và tiếp tục đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang điều trị đến ngày 15/10/2022 thì được ra viện.

Sau khi nhận đơn trình báo của anh Đỗ Văn An, hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/10/2022, tại Trung tâm y tế huyện Lạng Giang, Công an xã Nghĩa Hoà đã phối hợp với các cán bộ chuyên tiến Hnh kiểm tra xem xét dấu vết trên thân thể Đỗ Văn An phát hiện thấy có dấu vết ở các vị trí như sau: vùng đỉnh trán có vết xây xát xước da. Vùng trên cung mày phải có vết xây xát xước da. Vùng dưới đuôi mắt phải có vết xây xát xước da. Vùng cánh mũi phải có vết xây xát xước da. Vùng mắt trái có vết bầm tím da. Gãy răng số 11, 21, 22. Vùng gối phải có vết xây xát xước da. Vùng gối trái có vết xây xát xước da. Ngày 13/10/2022 Công an xã Nghĩa Hòa đã lập biên bản xác định hiện trường nơi anh An bị đánh gây thương tích nhưng không thu giữa được vật chứng gì. Sau khi thu thập tài liệu xác minh sơ bộ ban đầu Công an xã Nghĩa Hòa đã chuyển hồ sơ vụ việc cho Công an huyện Lạng Giang để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Phiếu khám bệnh vào viện ngày 09/10/2022 của Trung tâm y tế huyện Lạng Giang xác định: Anh Đỗ Văn An vào viện hồi 08 giờ 22 phút ngày 09/10/2022. Khám xét các bộ phận: sưng nề bấm tím gò má trái hốc mắt trái, sưng nề bầm tím gò má phải, trán phải, vùng cánh mũi phải, xây xát da gối hai bên, gãy thân răng R11, R21, R22 (BL82). Ngày 19/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang tiến Hnh giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đỗ Văn An? Cơ chế, chiều hướng gây thương tích.Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1019/22/TgT, ngày 25/10/2022 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Kiểm tra vùng cổ gáy không thấy dấu vết thương tích: 0%.Thương tích vết sẹo nông kích thước trung bình vùng trán: 6%.Thương tích vết sẹo nông kích thước trung bình gò má phải: 6%.Thương tích vết sẹo nông kích thước nhỏ trên cung mày phải: 3%.Thương tích vết sẹo nông kích thước nhỏ đỉnh mũi phải và cánh mũi phải: 3%.Thương tích mẻ răng 11: 1%.Thương tích gãy răng 21: 2%. Thương tích gãy răng 22: 2%.Thương tích chạm thương mắt trái không còn dấu vết: 0%. Thương tích vết sẹo kích thước trung bình gối phải (3x1)cm: 2%.Thương tích vết sẹo kích thước trung bình gối phải (1x1)cm: 2%. Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ gối phải (1,2x0,5)cm: 1%.Thương tích vết chợt da đóng vảy khô đang liền sẹo kích thước trung bình gối phải: 2%.Thương tích vết sẹo kích thước trung bình gối trái: 2%. Thương tích vết chợt da đóng vảy khô đang liền sẹo kích thước trung bình gối trái (1x1)cm: 2%.Thương tích vết chợt da đóng vảy khô đang liền sẹo kích thước nhỏ gối trái (0,6x0,5)cm: 1%.Tổng tỷ lệ thương tích theo phương pháp cộng của Thông tư số 22/2019/TT-BYT: 6% + 6% + 3% + 3% + 2% + 2% + 2% + 2% + 2% + 2% + 2% + 1% + 1% + 1% + 0% + 0% = 30%.

2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2022 của Bộ y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 30% (Ba mươi phần trăm).

3. Kết luận khác: Không xác định được cơ chế và chiều hướng gây thương tích”.

Tại Phiếu khám bệnh vào viện ngày 11/10/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác định: Anh Đỗ Văn An vào viện hồi 08 giờ 53 phút ngày 11/10/2022. Khám các bộ phận: đau đầu, đau vùng gáy; Buồn nôn không nôn; Đau đầu gối hai bên; Đau sưng nề cánh tay trái; Bầm tím mắt trái, cánh tay trái; Xây xát da vùng Hm mặt, gối 2 bên; Mẻ răng R21, R22, R23 (BL96). Ngày 12/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang tiến Hnh giám định bổ sung thương tích xác định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đỗ Văn An. Cùng ngày, anh Đỗ Văn An có đơn xin từ chối giám định bổ sung thương tích (BL 119).

Quá trình điều tra xác định: Đồng Ngọc T và Đỗ Văn An có quen biết nhau từ trước, trước đó vào khoảng năm 2019 giữa T và An có xảy ra xô xát xích míc đánh nhau nhưng không ai bị thương tích gì. Dương Văn T và Nguyễn Đức H đều không quen biết và không có mâu thuẫn gì với Đỗ Văn An. Đồng Văn T khai việc đánh An là do khi An đi vệ sinh đã nhìn với thái độ vênh váo, trong khi An không có lời nói hay bất kỳ Hnh động gì. Chỉ vì mâu thuân nhỏ nhặt từ nhiều năm trước và tự cho rằng An có thái độ vênh váo, Đồng Văn T đã có Hnh vi bảo Dương Văn T gọi An và cùng với T, Nguyễn Đức H dùng vũ lực tấn công, dùng chân, tay đấm, đá liên tục vào phần đầu, mặt của Đỗ Văn An dẫn đến bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 30%. Sau khi thực hiện Hnh vi Đồng Văn T và đồng phạm đã bỏ mặc bị hại, có thái độ hung hãn đe doạ người làm chứng. Hnh vi của T, T và H thể hiện bản Th côn đồ hung hãn, bất chấp luân thường đạo đức, coi thường pháp luật, coi thường Th mạng, sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân.

Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo Đồng Ngọc T, Nguyễn Đức H, Dương Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp có Th chất côn đồ).

Tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận Hnh vi phạm tội như Cáo trạng truy tố đã nêu và giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra.

Bị hại, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX): Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đồng Ngọc T từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

Về án phí, quyền kháng cáo đề nghị tuyên theo quy định pháp luật.

Các bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết Hnh vi của mình là sai, vi phạm pháp luật mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, xác định các Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, của người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên nên HĐXX căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 08/10/2022, tại sân bê tông phía trước quán bia Kim Ấm thuộc thôn Bằng, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, vô cớ Đồng Ngọc T đã có Hnh vi bảo Dương Văn T gọi và cùng với T và Nguyễn Đức H liên tục dùng chân, tay tấn công đánh vào vùng đầu, vùng mặt của anh Đỗ Văn An khiến An bị ngã úp mặt xuống nền bê tông, hai đầu gối quỳ xuống nền bê tông dẫn đến bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30% (Ba mươi phần trăm).

Xét thấy các bị cáo Đồng Ngọc T, Nguyễn Đức H, Dương Văn T đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt từ nhiều năm trước và tự cho rằng anh Đỗ Văn An có thái độ vênh váo, T đã có Hnh vi bảo T gọi An và cùng với T, H dùng vũ lực tấn công, dùng chân, tay đấm, đá liên tục vào phần đầu, mặt của anh An dẫn đến bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 30%. Hnh vi của các bị cáo là rất hung hãn, thể hiện coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của người khác, có Th chất côn đồ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp có Th chất côn đồ) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về Th chất và mức độ nguy hiểm của Hnh vi phạm tội: Hnh vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Ngoài ra, đây còn là vụ án có đồng phạm, cụ thể: Các bị cáo cùng thực hiện Hnh vi xâm phạm sức khoẻ của bị hại, song trước khi thực hiện Hnh vi các bị cáo không bàn bàn, không có sự câu kết, phân công tổ chức nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo T là người bảo T gọi anh An ra, là người thực hiện Hnh vi gây thương tích tích cực nhất nên có vai trò chính; bị cáo T là người đánh anh An trước bị cáo H nên bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo H. Do đó, HĐXX thấy cần có hình phạt phù hợp với Th chất Hnh vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo.

Về nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân bị cáo: Các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều có thái độ tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của bản thân; các bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo T, T có ông nội là người có công với cách mạng. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Căn cứ Th chất mức độ nguy hiểm của Hnh vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với Th chất, mức độ Hnh vi phạm tội của mỗi bị cáo. Song xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chỉ cần xử phạt tù các bị cáo ở mức thấp theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang là phù hợp, đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo H nhưng lại có nhiều hơn bị cáo H 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên HĐXX quyết định áp dụng mức hình phạt ngang nhau đối với hai bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo Đồng Ngọc T, Nguyễn Đức H, Dương Văn T đã xin lỗi anh Đỗ Văn An và tự nguyện bồi thường cho anh An số tiền là 150.000.000 đồng bao gồm tiền viện phí, thuốc men, tổn thất tinh thần, sức khỏe và các khoản chi phí khác. Anh An đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác:

Do các bị cáo Đồng Ngọc T, Nguyễn Đức H, Dương Văn T đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi Hnh án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đồng Ngọc T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2022.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Các bị cáo Đồng Ngọc T, Nguyễn Đức H, Dương Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ