- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày: 09 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳ nh Tấ n Sinh và ông Phạm Thế Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thứ c - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 16/3/1995;
Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12;
Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966.
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người là m chứng:
+ Anh Lê Văn D; sinh năm 1992;
+ Anh Y Kranh N1, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đề u vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 7 năm 2023, Nguyễn Văn T, trú tại thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Văn T” để lên mạng xã hội. Trong khi xem mạng xã hội T thấy trên một hội, nhóm của F có người đăng bài bán pháo hoa nổ. Lúc này, T nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ để dành và sử dụng đốt vào dịp Lễ quốc khánh và Tết Nguyên đán năm 2024. Nên T nhắn tin qua Messenger của Facebook để hỏi mua pháo hoa nổ từ người đăng bài bán pháo hoa nổ thì người đàn ông này nhắn tin nói T để lại số điện thoại tiện liên lạc. Sau đó, T sử dụng sim rác (sim không chính chủ), thường sử dụng để đăng ký lên mạng (T không nhớ rõ số thuê bao điện thoại này). Sau khi gửi số điện thoại qua, người đàn ông này gọi điện thoại cho T hỏi “đặt mua mấy bệ, loại nào”, T nói “lấy em 06 (sáu) bệ, loại 49 viên” thì người đàn ông này đồng ý và thông báo giá tiền cụ thể “một bệ loại 49 viên, giá 400.000 đồng, mua 06 bệ tổng số tiền là 2.400.000 đồng”, thì T đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 09/8/2023, khi T đang ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì nhận được điện thoại của người đàn ông bán pháo hoa nổ thông báo“hôm nay có pháo, mấy giờ giao để anh nói thằng kia đem pháo đến”. Lúc này, T nói “em đang trên phố, nên tầm 19 giờ đến 20 giờ tối nay anh nói họ đưa pháo cho em, rồi em đưa tiền luôn” thì người đàn ông đồng ý. Rồi T hẹn giao pháo hoa nổ tại đầu đường nhánh ở gần hồ sen thuộc thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, hướng đi Buôn T, xã E, huyện K. Sau đó, T đã bán điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A22, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao của T vừa sử dụng cho một cửa hàng điện thoại di động tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (T không nhớ tên, địa chỉ cửa hàng Đ) với giá 2.500.000 đồng. Rồi T điều khiển xe máy biển kiểm soát 47K2-3545 đi về huyện K để nhận pháo nổ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe máy đến đoạn đường nhánh gần hồ sen, thuộc thị trấn B, huyện K. Tại đây, T gặp một người đàn ông mặc áo khoác đen, đeo khẩu trang (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Lúc này, người đàn ông đưa cho T một bao xác rắn màu xanh dương, bên trong chứa 06 (sáu) hộp pháo hoa nổ, rồi T đưa người đàn ông này số tiền 2.400.000 đồng. Sau khi nhận pháo hoa nổ xong, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 47K2-3545 chở 06 hộp pháo hoa nổ về nhà tại thôn H, xã E, huyện K cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, cùng ngày 09/8/2023, khi T đang di chuyển trên đoạn đường thuộc buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì tổ công tác Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk phát hiện T đang chở 01 bao xác rắn bên trong chứa 06 (sáu) hộp pháo hoa nổ nên đã lập biên bản làm việc. Qua công tác kiểm tra Công an huyện K xác định trong bao xác rắn có 05 hộp giấy kín, có cùng kích thước (17,5x17,5x10) cm, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, bên trong mỗi hộp đều có 49 lỗ tròn, đường kính 2,5cm, dài 10cm, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau và 01 hộp giấy kín, có kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 BILLION TIME G-49 SHOTS” bên trong hộp có 49 vật hình trụ, màu xám, đường kính 2,4cm, dài 10cm, các vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau. Sau đó, Công an huyện K đã lập biên bản làm việc và tạm giữ 06 hộp pháo nổ để điều tra theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 751 ngày 23/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh G, kế t luậ n : 06 hộp giấy kín gồm 05 hộp giấy kín, có cùng kích thước (17,5x17,5x10) cm, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, bên trong mỗi hộp đều có 49 lỗ tròn, đường kính 2,5cm, dài 10cm, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau và 01 hộp giấy kín, có kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 BILLION TIME G-49 SHOTS” bên trong hộp có 49 vật hình trụ, màu xám, đường kính 2,4cm, dài 10cm, các vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau là pháo hoa nổ. Tổng khối lượng là 10,8 kg.
Mẫu vật được hoàn lại sau khi giám định là 04 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, khối lượng 7,3 kg và 21 vật hình trụ trong 01 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 BILLION TIME G-49 SHOTS”, có khối lượng 0,7 kg.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tạm giữ của Nguyễn Văn T các đồ vật gồm: 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 47K2-3545; 01 bao xác rắn bên trong có 06 hộp giấy kín.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A22, đây là phương tiện T sử dụng để liên hệ mua và bán pháo nổ. Tuy nhiên, T đã bán không xác định được địa chỉ cụ thể nên không thể thu giữ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 47K2-3545 mà bị cá o Nguyễn Văn T sử dụng để vận chuyển pháo nổ. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy biển kiểm soát 47K2-3545 là tài sản của bà Nguyễn Thị H1 (mẹ của T). Việc bị cá o Nguyễn Văn T sử dụng chiếc xe máy vào mục đích phạm tội bà H1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 47K2-3545 cho bà H1 là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 04 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, khối lượng 7,3 kg và 21 vật hình trụ trong 01 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 BILLION TIME G-49 SHOTS”, có khối lượng 0,7 kg, còn lại sau giám định đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 bao xác rắn màu xanh dương do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Việ n kiểm sát phân tích đánh giá t ính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điề u 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy đối với tang vật vụ án là 8 kg pháo nổ (mẫu vật còn lại sau giám định) và 01 bao xác rắn màu xanh dương.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H1 01 (một) xe máy biển kiểm soát 47K2-3545.
Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạ m tộ i như nội dung cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đượ c sớ m trở về gia đì nh lao độ ng giú p bố mẹ và là công dân tố t cho xã hộ i.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt và họ đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án , xét thấy việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án , căn cứ vào khoản 1 Điều 292, Điề u 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 09/8/2023, tại đoạn đường tránh thuộc Buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn T đang có hành vi vận chuyển 06 hộp pháo nổ, tổng khối lượng là 10,8 kg, để sử dụng thì bị Công an huyện K phát hiện lập biên bản thu giữ, điều tra xử lý.
Xét thấy bị cáo là người đã thành niên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ pháo nổ của bị cáo nói trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố là có căn cứ, đú ng ngườ i, đú ng tội, đúng pháp luật.
Tại điể m c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ , vận chuyển hàng cấ m thuộc một trong các trường hợ p sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
….”
Xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế , làm ảnh hưởng đến sự bình thường của hoạt động quản lý nhà nước về pháo và sử dụng pháo, đồ ng thờ i gây mất trật tự an ninh tại địa phương nhất là trong dịp sắ p đế n tết cổ truyền của dân tộc ; bị cáo là người đã thành niên, buộc phải nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, nghiêm cấm các hành vi vận chuyển, buôn bán và tàng trữ nhưng vì ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý phạm tội tàng trữ pháo nổ cho nên cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ : Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình , bị cáo phạm tội lần đầ u, ít nghiêm trọng và bị cáo đã chấp hành xong nghĩa vụ quân sự nên bị cá o đượ c hưở ng cá c tì nh tiế t giả m nhẹ hì nh phạ t theo quy đị nh tạ i điể m i , s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ Luậ t hì nh sự .
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không mang tính khả thi trong công tác thi hành án, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo yên tâm học tập, cải tạo, sớm thi hành xong Bản án.
. Đối với người đàn ông có hành vi bán pháo nổ cho bị cá o Nguyễn Văn T, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý là phù hợ p.
. Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điề u 47, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xé t thấ y cầ n:
- Tịch thu tiêu hủy đối với tang vật vụ án là 8 kg pháo nổ (mẫu vật còn lại sau giám định) và 01 bao xác rắn màu xanh dương.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H1 01 (một) xe máy hiệ u Honda Wave alpha , màu xanh đen, biển kiểm soát 47K2-3545.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A22, đây là phương tiện T sử dụng để liên hệ mua pháo nổ. Tuy nhiên, T đã bán không xác định được địa chỉ cụ thể nên không thể thu giữ xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
[2]. Về Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (mộ t) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về hì nh phạ t bổ sung: Không á p dụ ng hình phạ t bổ sung đố i vớ i bị cá o.
[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy số pháo nổ là tang vật vụ án, sau khi giám định còn lại 8 kg.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao xác rắn màu xanh dương.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana).
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H1 01 (một) xe máy hiệ u Honda Wave alpha , màu xanh đen, biển kiểm soát 47K2-3545.
[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan vắng mặt , có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; TANDTC; - Sở tư pháp; - VKSND huyện; tỉnh; - CA huyện; - THAHS; THADS; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Cổ ng thông tin điệ n tử Tò a á n; - Lưu hồ sơ; VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký ) Đỗ Văn Thành |