vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thiên  phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thiên  phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂ DÂ
HUYỆN H
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày: 15 – 6 – 2023

NHÂ DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂ DÂ HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Như

2. Bà Phan Thị Vui

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – T ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 06 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/TLST-HS ngày 04/4/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Thiên Â, sinh năm 1985 tại: tỉnh Bình Phước. Tên gọi khác: Tý. Nơi đăng kí HKTT: ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12. Con ông: Hồ Ngọc T, sinh năm 1957, Mẹ: Võ Thị Đ, sinh năm 1956. Bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1988. Bị cáo có vợ tên: Mai Thị Hồng B, sinh năm: 1986, bị cáo có 02 con chung cháu Hồ Thiên H, sinh năm 2005 và cháu Hồ Mai Gia L, sinh năm 2008.Tiền sự: Không, tiền án và nhân thân:

Ngày 08/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước tuyên phạt 03 năm 6 tháng tù giam về tội Cướp tài sản, theo bản án số: 34/2014/HSST đến ngày 16/5/2016, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 26/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước tuyên phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số: 20/2017/HSST đến ngày 11/01/2018, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 27/5/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, theo bản án số: 37/2019/HSPT. Đã chấp hành xong hình phạt chính (ngày 13/3/2020), nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Ngày 09/11/2021, có hành vi chiếm đoạt 02 điện thoại di động của chị Ngô Thị L và cháu Ngô Anh T tại của hàng tạp hóa của chị L thuộc tổ 1, khu phố 3, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Ngày 11/01/2022, bị khởi tố và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo bỏ trốn và bị truy nã. Đến ngày 12/11/2022 bị cáo bị bắt tạm giam cho đến nay. Ngày 22/02/2023 bị khởi tố bổ sung về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ngô Thị L, sinh năm 1978; Ngô Anh T, sinh năm 2006 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố 3, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Người bào chữa cho bị hại Ngô Anh T: Trần Thị Loan, sinh năm 1985 - Trợ giúp viên pháp lý (có mặt)

Địa chỉ: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 45 phút ngày 09/11/2021, Hồ Thiên  điều khiển xe mô tô, biển số 64T1 – 5416 đi đến tiệm tạp hóa của chị Ngô Thị L thuộc tổ 1, khu phố 3, thị trấn T, huyện H để mua gà.  mua một con gà và yêu cầu chị L làm thịt gà cho  mang về, chị L đồng ý mang gà vào nhà làm thịt còn  ngồi chờ. Khi chị L đang làm thịt gà thì  mua thêm 02 con gà và tiếp tục yêu cầu chị L làm thịt. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, cháu Ngô Anh T (là con gái chị L) học bài xong thì để điện thoại di động, nhãn hiệu: VSMART ở trên 01 tấm nệm dựng ở sát cửa ra vào phòng ngủ, bên cạnh 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: OPPO F7 của chị L đang cắm sạc pin trước đó rồi đi đến chỗ chị L phụ làm thịt gà. Lúc này,  đi đến cửa ra vào cách chỗ chị L và cháu T khoảng 02m hỏi “Sao làm lâu vậy”, chị L trả lời “Anh đi ra ngoài đi, đợi tý nữa, chuẩn bị mổ ruột”. Khi này,  nhìn thấy điện thoại di động của cháu T và chị L nên nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 điện thoại trên,  dùng tay lấy điện thoại di động, nhãn hiệu: VSMART và điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO F7 đi ra xe môtô. Khi ngồi lên xe mô tô  bỏ điện thoại di động, nhãn hiệu: OPPO F7 vào trong túi áo khoác, còn điện thoại di động nhãn hiệu: VSMART cầm trên tay phải. Cùng lúc này, cháu T phát hiện bị mất điện thoại nên nói “Mẹ, mất điện thoại”, đồng thời chạy ra phía trước tạp hóa, chị L chạy theo sau. Khi ra đến sân, cháu T nhìn thấy  đang ngồi trên xe mô tô, tay đang cầm điện thoại di động của mình nên cháu T chạy đến, dùng tay trái lấy được điện thoại từ tay phải của Â, đồng thời tay phải rút chìa khóa xe môtô của  ra, còn chị L giữ  lại thì  lấy điện thoại trong túi áo ném xuống nền nhà. Khi này, anh Ngô Thái L đi đến, nhìn thấy chị L và  giằng co với nhau nên chạy đến hỗ trợ bắt giữ Â. Sau đó, chị L trình báo sự việc đến Công an thị trấn T để xử lý theo quy định.

Ngày 11/01/2022, Công an huyện H ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị cáo đối với Hồ Thiên  về hành vi trộm cắp tài sản và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên,  đã bỏ trốn và bị Công an huyện H ra Lệnh Truy nã. Đến ngày 12/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phối hợp với Công an huyện B, tỉnh Bình Dương bắt được Hồ Thiên  tại ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, đồng thời thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790182107477, 01 giấy chứng minh Công an nhân dân số: 409 - 287, 02 cước công dân số: 079182000592 tất cả đều mang tên Hồ Công M, sinh ngày 02/4/1982, nơi cư trú: P10, Q3, Tp Hồ Chí Minh và 01 căn cước công dân số: 087092744262, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 870226526211 mang tên Phạm Thị Thu H, sinh ngày 10/3/1992, nơi cư trú: xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Quá trình điều tra, Hồ Thiên  khai nhận: Sau khi biết mình bị Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định truy nã.  đã lên mạng xã hội Facebook tìm đặt làm những giấy tờ trên mục đích sử dụng để thuê, mướn nơi ở nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Sau khi có những giấy tờ trên,  đã sử dụng 01 cước công dân số: 079182000592 mang tên Hồ Công M, sinh ngày 02/4/1982, nơi cư trú: P10, Q3, Tp Hồ Chí Minh để thuê nhà trọ.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số: 44/KL-HĐĐGTTTHS ngày 12/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Giá trị còn lại của 01 điện thoại Oppo F7 bộ nhớ 64GB, Ram 4GB tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.250.000đ;

Giá trị còn lại của 01 điện thoại VSMART, kiểu máy Star 5 – CPH1819 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.560.000đ.

Căn cứ kết luận giám định số: 93/KL(TL)-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790182107477, 01 giấy chứng minh Công an nhân dân số: 409 - 287, 02 cước công dân số: 079182000592 tất cả đều mang tên Hồ Công M, sinh ngày 02/4/1982, nơi cư trú: P10, Q3, Tp Hồ Chí Minh và 01 căn cước công dân số: 087092744262, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 870226526211 mang tên Phạm Thị Thu H, sinh ngày 10/3/1992, nơi cư trú: xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp là giả.

Tại Bản cáo trạng số 21/CT-Vks ngày 03 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 2 điều 341 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án:

- 01 áo khoác bằng vải, nhãn hiệu: HULLING LONG 52-180, màu xám; 01 ví bằng da, nhãn hiệu: TRUE REHGION ERAND WALLETS, màu vàng xám; 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá: 20.000đ; 01 bao thuốc lá, nhãn hiệu: 555; 01 cái bật lửa có ghi dòng chữ: “HOA VIỆT”; 01 cái mũ lưỡi trai, màu xanh đen; 01 mũ bảo hiểm, màu xanh có ghi dòng chữ: “OPPO KHẢ H” và 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu: OPPO F1S, có ốp lưng bằng nhựa, màu đen là tài sản của Hồ Thiên Â, không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên trả lại cho Hồ Thiên Â.

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu: Honda Wave RSX, màu đen, biển số: 64T1-5416 là tài sản của ông Hồ Ngọc T, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông T nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập.

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: OPPO F7, màn hình cảm ứng, màu xanh dương; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu: VSMART, màu đen là tài sản của chị Ngô Thị L và cháu Ngô Thị Anh T. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị L và cháu T nên Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790182107477, 01 giấy chứng minh Công an nhân dân số: 409 - 287, 02 cước công dân số: 079182000592 tất cả đều mang tên Hồ Công M; 01 căn cước công dân số: 087092744262, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 870226526211 mang tên Phạm Thị Thu H. Đây là những giấy tờ Â làm giả để sử dụng, là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Thiên  phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xuất xử phạt bị cáo Hồ Thiên  từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm e, khoản 2, điều 341, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xuất xử phạt bị cáo Hồ Thiên  từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Trợ giúp viên pháp lý đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật, về vấn đề trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Việc vắng mặt của bị hại Ngô Thị L không ảnh hưởng tới việc xét xử của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định.

Tại phiên toà, bị cáo  thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, xét lời khai nhận tội của bị cáo có cơ sở xác định: Khoảng 8 giờ 45 phút ngày 09/11/2021 khi đi mua gà tại nhà bị hại Ngô Thị L. Bị cáo nảy sinh long tham khi thấy 02 điện thoại di động nhãn hiệu: VSMART và điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO F7 đã lén lút thực hiện hành vi dùng tay lấy 02 chiếc điện thoại di động. Sau đó bị cáo chưa kịp tẩu thoát đã bị cháu Ngô Anh T cùng mẹ Ngô Thị L bắt quả tang và trình báo Công an thị trấn T để xử lý theo quy định.

Ngày 11/01/2022, Công an huyện H ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị cáo đối với Hồ Thiên  về hành vi trộm cắp tài sản và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, bị cáo  đã bỏ trốn và bị Công an huyện H ra Lệnh Truy nã. Đến ngày 12/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phối hợp với Công an huyện B, tỉnh Bình Dương bắt được bị cáo Hồ Thiên Â. Sau khi biết mình bị Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định truy nã. Bị cáo  có hành vi tìm đặt làm những giấy tờ như 02 giấy phép lái xe, 03 căn cước công dân, căn cứ kết luận giám định số: 93/KL(TL)-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước thì các giấy tờ trên giả mục đích sử dụng để thuê, mướn nơi ở nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Do đó hành vi của bị cáo  đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo  chưa được xóa án tích theo bản án số 37/HSPT ngày 27/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, mặt khác bản án trên đã áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với bị cáo Â, nên lần phạm tội “Trộm cắp tài sản” này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm e, khoản 2, điều 341, Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hoang mang trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo thực hiện việc phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc làm giả giấy tờ của cơ quan chức năng và chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng vì mục đích trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm và ham tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo hợp tác lấy lời khai với Cơ quan điều tra nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, Điều 51, Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H và đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về xử lý các vật chứng.

Người bào chữa cho bị hại về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện H về tội danh, điều luật và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Hồ Thiên  phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thiên  phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Hồ Thiên  03 (ba) năm tù về tội trộm cắp tài sản

Áp dụng điểm e, khoản 2 điều 341, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Hồ Thiên  02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 12/11/2022

3. Về xử lý vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

+ Trả lại cho bị cáo Hồ Thiên Â: 01 áo khoác bằng vải, nhãn hiệu: HULLING LONG 52-180, màu xám; 01 ví bằng da, nhãn hiệu: TRUE REHGION ERAND WALLETS, màu vàng xám; 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá: 20.000đ; 01 bao thuốc lá, nhãn hiệu: 555; 01 cái bật lửa có ghi dòng chữ: “HOA VIỆT”; 01 cái mũ lưỡi trai, màu xanh đen; 01 mũ bảo hiểm, màu xanh có ghi dòng chữ: “OPPO KHẢ HÂN” và 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu: OPPO F1S, có ốp lưng bằng nhựa, màu đen là tài sản của Hồ Thiên Â, không liên quan đến vụ án.

+ Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 790227285168, 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790182107477, 01 giấy chứng minh Công an nhân dân số: 409 - 287, 02 cước công dân số: 079182000592 tất cả đều mang tên Hồ Công M; 01 căn cước công dân số: 087092744262, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 870226526211 mang tên Phạm Thị Thu H là giấy tờ giả, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2023 giữa Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Tờng vụ Quốc Hội: Bị cáo Hồ Thiên  phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại Ngô Anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại Ngô Thị L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ