- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày: 26.6.2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phú Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hùng.
Ông Nguyễn Văn Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trƣơng Công Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23A/2023/QĐXXST-HS ngày 01tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/5/1997 tại Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: Thôn P 2, xã H, huyện H, thành phố Đ; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thái T (Sinh năm: 1971) và bà Phan Thị Th\ (Sinh năm 1973). Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 12/6/2019 bị Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, TP Đà Nẵng xử phạt 03 năm 06 tháng t về tội Cướp tài sản . Chấp hành xong vào ngày 01/10/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/02/2023. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Ông Nguyễn Thành Đ – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm: 1971 và bà Phan Thị Th, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Thôn P 2, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt
- Những người bị hại:
+ Ông Nguyễn Th1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn L, xã H1, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt
+ Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1992. HKTT: Thôn 4, xã TC, huyện T, tỉnh Q. Nơi ở hiện tại: Kiệt 46, phường H, quận C, thành phố Đ. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn S, sinh năm 1946. Địa chỉ: Thôn L, xã H1, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn Trọng Ái D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt
+ Bà Trần Thị D1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn P 2, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/02/2023, Nguyễn Văn Q điều khiển xe đạp đi từ nhà đến khu vực ngh a địa thuộc xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Khi đi đến khu vực thuộc thôn Cẩm Toại Trung, xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 92M1-034.63 c a anh Nguyễn Trọng T1 Sinh n m 1 2, trú tại iệt đư ng Trư ng Sơn, t 31, phư ng Hoà Thọ T , qu n Cẩm Lệ, thành phố Đà N ng làm ch đang để tại sân vườn không có người trông coi và cắm chìa khóa trên xe thì Q liền nảy sinh ý lấy trộm xe mô tô này. Ngh là làm, Q dừng xe lại, cất giấu xe đạp ở bụi cây cách vị trí xe mô tô nêu trên khoảng 50m r i đi bộ đến, quan sát không có ai nên đã lén lút lấy trộm xe mô tô 92M1-034.63 r i điều khiển chạy về hướng xã Hòa Tiến, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Khi đến đoạn đường ĐT605 thuộc t 06, thôn Lệ Sơn Bắc, xã Hòa Tiến, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng thì xe bị hỏng, tắt máy nên Q dắt bộ đến tiệm điện nước Thương. Tại đây, Q thấy xe mô tô biển kiểm soát 43 - 331KE c a anh Nguyễn Th1 Sinh n m: 1 2, trú tại thôn Lệ Sơn Bắc, Hoà Tiến, hu ện Hoà Vang, thành phố Đà N ng , có cắm chìa khoá trên xe. Q quan sát không có ai nên Q để lại xe mô tô biển kiểm soát 92M1 - 034.63 ở gần đó r i tiến lại gần và lén lút lấy trộm chiếc xe này chạy đi nhưng bị anh Th1 phát hiện đu i theo, gi Q cùng xe mô tô lại và gọi điện báo Công an đến làm việc.
Tang vật tạm gi :
- 01 xe mô tô Sirius BKS 92M1 - 034.63;
- 01 xe mô tô Super Cup50 biển kiểm soát 43 - 331KF;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn S.
- 01 chiếc xe đạp
Tại kết luận định giá tài sản số: 04, ngày 20/02/2023 c a Hội đ ng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Hoà Vang xác định:
- 01 xe mô biển kiểm soát 43-331KE có giá trị là 1.000.000 đ ng;
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 92M1-034.63 có giá trị là 8.000.000 đ ng.
T ng giá trị tài sản bị trộm cắp là 9.000.000 đ ng.
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số: 409, ngày 12/4/2023 c a Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung xác định đối với Nguyễn Văn Q như sau:
Trƣớc thời điểm gây án:
- Kết luận về mặt y học: Rối loạn nhân cách thực t n (F07.0).
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại thời điểm gây án:
Kết luận về y học: Rối loạn nhân cách thực t n (F07.0).
Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Thời điểm hiện tại:
Kết luận về y học: Rối loạn nhân cách thực t n (F07.0).
Đối tượng cần được điều trị ngoại trú.
Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điểu khiển hành vi.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2023 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2023 và đề nghị Hội đ ng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s, q khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng t đến 15 (mười lăm) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang đã xử lý vật chứng theo đúng quy định c a pháp luật đề nghị HĐXX xem xét.
Người bào ch a cho bị cáo Nguyễn Văn Q là Luật sư Nguyễn Thành Đ thống nhất với tội danh, khoản, điều luật, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị HĐXX xem xét đến khả năng hạn chế về nhận thức và điều khiển hành vi c a bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, mục đích c a việc trộm cắp là để có phương tiện để đi lại, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn để quyết định mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận các hành vi phạm tội c a mình và thừa nhận tội danh như cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng truy tố là đúng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên c a huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định c a các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp và thực hiện đúng theo quy định c a pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai c a bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, quan điểm bào ch a c a luật sư bào ch a cho bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại h sơ vụ án, Hội đ ng xét xử có đ cơ sở khẳng định:
Ngày 18/02/2023, trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng bị cáo đã thực hiện 02 lần hành vi trộm cắp. Cụ thể: Lần thứ nhất trộm 01 xe mô tô biển kiểm soát 92M1-034.63 c a anh Nguyễn Trọng T1 tại xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Lần thứ hai trộm 01 xe mô tô biển kiểm soát 43-331KE c a anh Nguyễn Th1 tại xã Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.
Tại kết luận định giá tài sản số 04 ngày 20/02/2023 c a Hội đ ng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Hoà Vang xác định t ng giá trị tài sản bị trộm cắp là 9.000.000 đ ng.
Như vậy, Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2023 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, h u quả của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết t ng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấ :
Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp c a công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có tiền án về tội cướp tài sản chưa được xóa án tích, thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản nên hành vi phạm tội c a bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy bị cáo là nhân thân xấu đã từng kết án nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đối với bị cáo cần xử lý một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm và làm gương cho người khác.
Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội c a mình, khi thực hiện hành vi phạm tội bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về ử lý v t chứng:
- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 92M1 - 034.63, xe mô tô biển kiểm soát 43-331KF; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Sương: Sau khi tạm gi định giá phục vụ cho việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ch sở h u là đúng quy định c a pháp luật.
- Đối với chiếc xe đạp: Qua điều tra xác định thuộc sở h u c a bà Trần Thị D1 (là bà ngoại c a bị can Q), việc Q lấy chiếc xe đạp này sử dụng vào việc phạm tội thì bà D1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà D1 là có căn cứ.
Về trách nhiệm d n sự: Anh Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Th1 không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s, q khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo 15 (mƣời lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt t tính từ ngày bắt giam ngày 18/02/2023.
2. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đ ng (Hai tr m nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại và người có quyền lợi ngh a vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Đà N ng; - VKSND TP. Đà N ng; - VKSND hu ện Hòa Vang; - Chi cục THADS hu ện Hòa Vang; - Công an hu ện Hòa Vang; - Sở Tư pháp Tp. Đà N ng; - Những ngư i tham gia tố tụng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phú Đạt |