vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Y K Êban, Y K1 Niê phạm tội “ Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Y K1 Niê 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/3/2023 Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588, Điều 589 Bộ luật dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y K cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Y K Êban, Y K1 Niê phạm tội “ Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐẮKLẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày: 22 – 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cao Thị Hồng Châu

2. Bà Trần Thị Thanh Thẩm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh ĐắkLắk xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Y K Êban, Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1995, tại tỉnh Đăk Lăk;

Nơi ĐKHKTT: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Buôn S, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Êđê; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y F Adrơng, sinh năm 1970 và con bà H N Êban, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 30/8/2016, Y K Êban bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hình phạt là 01 năm 03 tháng tù, theo Bản án số: 320/2016/HSPT, ngày 30/8/2016. Đến ngày 05/4/2017, Y K Êban đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Ngày 07/3/2023, Công an huyện Čư M’gar đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Y K Êban về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt: Cảnh cáo.

Bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an huyện CưMgar từ ngày 02/3/2023, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Y K1 Niê , Sinh ngày 27 tháng 5 năm 2002, tại tỉnh Đăk Lăk;

Nơi cư trú: Buôn J, xã G, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Êđê; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y L Êban, sinh năm 1967 và con bà H L Niê, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/10/2021, Y K1 Niê bị Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt tiền, với mức phạt là 1.500.000 đồng, Y K1 chưa chấp hành việc đóng tiền phạt. Bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an huyện CưMgar từ ngày 07/3/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Người giám hộ cho bị cáo Y K Êban: Bà H N Êban, sinh năm 1975 và ông Y F Adrơng, sinh năm 1970 (có mặt) Địa chỉ: Buôn S, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Người bào chữa cho bị cáo Y K Êban: Luật sư Võ Hữu Q, sinh năm 1968 thuộc Công ty luật TNHH MTV Đại An, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

Địa chỉ: 36 N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Bị hại: Bà Thái Thị W, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: 61 Thôn E, xã R, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

- Người phiên dịch: Bà H T Niê Kđăm (có mặt)

Công tác tại: Phòng Dân tộc huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 27/02/2023, Y K Êban đi chơi cùng với Y K1 Niê. Sau đó, Y K1 điều khiển xe mô tô biển số 47B2-790.87; nhãn hiệu: Yamaha; số loại: Exciter; màu sơn: Đỏ đen chở Y K đi từ buôn Ju, xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột về hướng đường Tỉnh lộ 8, huyện Čư M’gar để về nhà Y K. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đi đến đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn 1, xã Ea Kpam, huyện CưMgar, Y K1 phát hiện thấy một chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu hồng trong hộc yếm bên trái của xe mô tô 47-H1.728.09 nhãn hiệu Vision do chị Thái Thị W, một mình điều khiển cùng chiều phía trước. Y K1 chỉ cho Y K thấy chiếc điện thoại và hỏi Y K “Lấy không?” thì Y K trả lời “Lấy luôn”. Y K1 điều khiển xe đi theo sau xe của chị W. Khi chị W điều khiển xe mô tô rẽ vào đường bê tông đi vào mỏ đá An Nguyên, thuộc thôn 1, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar được khoảng 100m thì Y K1 điều khiển xe chở Y K đi theo sau áp sát vào xe mô tô chị W điều khiển. Y K dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại Samsung Galaxy A13, màu hồng trong hộc yếm xe của chị W thì bị chị W phát hiện. Chị W chụp lấy tay của Y K đang giật điện thoại và hô lên nhưng Y K giật tay lại, cướp được điện thoại. Y K1 tăng tốc xe mô tô bỏ chạy thoát. Y K đưa chiếc điện thoại trên cho Y K1 giữ mục đích để bán lấy tiền cùng nhau tiêu xài nhưng chưa bán được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL-HĐĐGTS, ngày 02/3/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cư M’gar kết luận, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu hồng, có số IMEI 1: 350013883532961, số IMEI 2: 352270633532968 định giá tại thời điểm ngày 27/2/2023 có giá trị là 3.150.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 107/KLGĐ, ngày 26/5/2023, của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận bị can Y K Êban: Kết luận về y học: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc (ngày 27/02/2023) và hiện tại: Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70-ICD10); Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc (ngày 27/02/2023) và hiện tại: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số 39/CT – VKS ngày 26 tháng 7 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Y K Êban, Y K1 Niê về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Y K Êban và Y K1 Niê đã Ki nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b,s,q khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y K Êban từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y K1 Êban từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Xử lý như nội dung cáo trạng

Bị cáo Y K Êban, người giám hộ cho bị cáo Y K; bị cáo Y K1 Niê không ý kiến tranh luận gì,

Người bào chữa cho bị cáo ý kiến: Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; bị cáo là người dân tộc thiểu số; trình độ học vấn thấp 1/12 nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s, q khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất dưới khung hình phạt liền kề.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hai bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người giám hộ cho bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Do có ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 27/02/2023, tại đoạn đường bê tông đi vào mỏ đá An Nguyên, thuộc thôn 1, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, Y K1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47B2-790.87 chở Y K Êban ngồi sau để Y K thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại Samsung Galaxy A13, màu hồng có giá trị 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) của chị Thái Thị W trong hộc yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 47-H1.728.09 do chị W điều khiển. Sau đó, cả hai bỏ trốn thì bị phát hiện.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Y K Êban và Y K1 Niê đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015.

Tại Điều 171 Bộ Luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; …”

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưMgar đã truy tố bị cáo Y K Êban và Y K1 Niê về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo Y K1 là người có đủ năng lực pháp luật hình sự. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo phải biết tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng nên các bị cáo đã thực hiện Cướp giật tài sản có tổng giá trị 3.150.000 đồng. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ: Hai bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 30/8/2016, bị cáo Y K Êban bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hình phạt là 01 năm 03 tháng tù, theo Bản án số: 320/2016/HSPT, ngày 30/8/2016. Đến ngày 05/4/2017, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Ngày 13/10/2021, bị cáo Y K1 Niê bị Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt tiền, với mức phạt là 1.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành việc đóng tiền phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo Y K Êban, Y K1 Niê đã tác động gia đình, “tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, cả hai bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt nên cần cho hai bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Y K Êban“là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi” nên cần cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Hội đồng xét xử xét thấy hai bị cáo đồng phạm giản đơn, cùng thực hiện việc phạm tội, bị cáo Y K1 là người khởi xướng, điều khiển xe môtô chở bị cáo Y K là người thực hiện việc cướp điện thoại của bị hại. Vì vậy, mức hình phạt của bị cáo Y K1 sẽ cao hơn bị cáo Y K. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên. Cần phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với hai bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Hành vi của hai bị cáo là bất ngờ, công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của bị hại rồi tẩu thoát. Tính chất hành vi nguy hiểm vì vậy không chấp nhận quan điểm của người bào chữa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Y K Êban.

Về xử lý vật chứng: Ngày 08/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Čư M’gar đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu hồng cho chị Thái Thị W là chủ sở hữu hợp pháp. Xét việc trao trả trên phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Đối với 01 xe mô tô không gắn biển số; nhãn hiệu: Yamaha; số loại: Exciter; màu sơn: Đỏ đen; số máy: G3D4E1085763; số khung: RLCUG1010LY314725 là tài sản của Y K1 Niê sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung Công quỹ nhà nước.

Đối với 01 mũ bảo hiểm màu trắng, phía sau có in chữ nổi “NÓN SƠN”; 01 đôi dép lê màu xanh dương, quai ngang có sọc ngang màu xanh, trắng; 01 áo len dài tay; 01 áo thun màu trắng; 01 quần vải màu xám là của Y K Êban mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Y K Êban và Y K1 Niê đã tác động gia đình bồi thường cho chị Thái Thị W, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Chị W không yêu cầu bồi thường thêm dân sự. Xét việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa hai bị cáo và bị hại là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường trên.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 11; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Y K Êban do có nhược điểm về tâm thần nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Y K1 Niê phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Y K Êban, Y K1 Niê phạm tội “ Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s, q khoản 1,2 điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y K Êban 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/3/2023

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b,s, khoản 1,2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Y K1 Niê 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/3/2023

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588, Điều 589 Bộ luật dân sự:

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu hồng cho chị Thái Thị W là chủ sở hữu hợp pháp.

- Sung Công quỹ nhà nước 01 xe mô tô không gắn biển số; nhãn hiệu: Yamaha; số loại: Exciter; màu sơn: Đỏ đen; số máy: G3D4E1085763; số khung: RLCUG1010LY314725 của bị cáo Y K1 Niê.

- Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu trắng, phía sau có in chữ nổi “NÓN SƠN”; 01 đôi dép lê màu xanh dương, quai ngang có sọc ngang màu xanh, trắng; 01 áo len dài tay; 01 áo thun màu trắng; 01 quần vải màu xám..

(Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk).

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Y K Êban và Y K1 Niê đã tác động gia đình bồi thường cho chị Thái Thị W, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ, khoản 1 Điều 11; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Y K Êban được miễn án phí hình sự sơ thẩm, Y K1 Niê phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người giám hộ cho bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ