- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Nhật Tr, phạm tội “ Cố ý gây Thơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL TỈNH TV | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39 /2023/HS-ST. Ngày 17-07-2023. |
NHÂN DANH
N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH TV
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Ông Lê Văn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thắng.
Ông Nguyễn Văn Xuôi.
Th ký Pên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu, Th ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh TV.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL tham gia Pên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhanh, kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Trà Vinh xét xử công khai bằng hình thức trực tuyến, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2023/QĐXXST - HS, ngày 28 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Nhật Tr, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1989, tại: tỉnh TV.
Nơi cư trú: ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh Trà Vinh.
Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc N (chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ: Lữ Thị Hồng Th; con: 02 người lớn nhất sinh 2011, nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: không; tiền án: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kể từ ngày 18/02/2023, bị cáo có mặt tại Pên tòa.
* B hại: ông Lý Văn P, sinh năm 1978 (có mặt) .
Nơi cư trú: ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV.
* Nhân Chứng:
1.Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961(vắng mặt).
2.Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1965 (vắng mặt).
3.Ông Phạm Minh T, sinh năm 1953 (có mặt).
4.Ông Nguyễn Văn Bé S, sinh năm 1960 (vắng mặt).
5.Bà Lữ Thị Hồng Th, sinh năm 1990 (có mặt).
6.Anh Lý Văn Đ, sinh năm 1999 (có mặt).
7.Chị Lý Thị Ngọc M, sinh năm 2000 (có mặt).
Nơi cư trú: cùng ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV.
Người hỗ trợ kỹ thuật điểm cầu trung tâm có ông Đinh Văn Dư.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ ngày 20/3/2022, do nhớ lại mâu thuẫn ngày hôm trước, Lý Văn P, sinh năm 1978 đi đến nhà bị cáo Phạm Nhật Tr cùng địa chỉ ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV tìm bị cáo Tr để nói chuyện. Lúc này, bị cáo Tr đang ngủ, P gặp bà Lữ Thị Hồng Th, sinh năm 1990 là vợ của bị cáo Tr, P kêu Th gọi bị cáo Tr ra gặp nói chuyện nếu bị cáo Tr không ra sẽ kéo người đến kiếm bị cáo Tr. Th trả lời bị cáo Tr không có ở nhà và kêu P về. Lúc này, Nguyễn Văn H, sinh năm 1961, nơi Thờng trú ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV nghe lớn Tg nên lại xem thì gặp P. H khuyên can kêu P về nhưng P tiếp tục chửi bị cáo Tr, một lúc sau, P đi về nhà ngủ.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Tr thức dậy nghe Th kể lại sự việc, do bực tức việc P đến nhà gây sự nên bị cáo Tr điều khiển xe chở theo con trai là Phạm Gia Bảo, sinh năm 2015 đến nhà P. Khi đến nơi, bị cáo Tr đậu xe cập lộ đal, cho con trai ngồi trên xe rồi đi vào nhà thấy P đang nằm ngủ, bị cáo Tr gọi P ra nhưng P không nghe. Tại đây, bị cáo Tr gặp Lý Văn Đ, sinh năm 1999 và Lý Thị Ngọc M, sinh năm 2000 là con ruột của P nên kêu Đ và M gọi P ra nói chuyện. Đ gọi thì P thức dậy, bị cáo Tr đi vào nói chuyện với P thì cả hai xảy ra cự cãi. Sau đó, P chạy ra phía sau nhà lấy một cây dao bằng kim loại, dài 40 cm, mũi bằng, lưỡi dao dài 30cm, cán dao dài 10cm không có vỏ bọc để tại kệ bếp đi ra vị trí bị cáo Tr đang đứng trước sân nhà để dọa chém. Bị cáo Tr thách thức P và đi ra lộ đal trước nhà, P cũng cầm dao đi theo và đưa dao dọa chém. Lúc này, Phạm Minh T, sinh năm 1953 cùng nơi cư trú ấp T Th, xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV điều khiển xe đi ngang thấy sự việc nên dừng xe khuyên can nhưng cả hai không dừng lại. P tiếp tục cầm dao đưa lên cao dọa chém và chửi bị cáo Tr. Do bực tức, bị cáo Tr dùng tay phải cung tay lại thành nấm đấm đánh một cái theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mắt trái của P gây Thơng tích làm P té ngã xuống cập lộ đal. Sau đó, P Tr người ngồi dậy rồi tiếp tục cầm dao rượt dọa chém bị cáo Tr. Bị cáo Tr bỏ chạy một đoạn thì nhặt lấy một đoạn tre khô dài khoảng 2,5m cập đường đal quay lại định đánh P thì được mọi người can ngăn.
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Tr điều khiển xe về nhà, P được mọi người sơ cứu vết Thơng. Đến chiều cùng ngày, P đến Trung tâm y tế huyện CL khám mắt kiểm tra Thơng tích nhưng do ngày nghĩ nên không khám được. Đến ngày 21/3/2022, P quay lại Trung tâm y tế huyện CL khám thì Bác sĩ kết luận mắt trái bị xuất huyết tiền phòng và chuyển tuyến điều trị tiếp. P tiếp tục đến Bệnh viện đa khoa tỉnh TV khám, ở đây cho biết mắt bị Thơng tích nặng và khuyên P đi điều trị tuyến trên. Đến ngày 23/3/2022, P đến khám tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh, Bác sĩ kết luận mắt trái của P bị xuất huyết tiền phòng độ IV, xuất huyết pha lê thể và bong hắc mạc do chấn Thơng. Sau đó, Bệnh viện cho thuốc về điều trị và tái khám định kỳ.
Đến ngày 13/4/2022, P làm đơn yêu cầu giám định Thơng tích, xử lý hình sự đối với bị cáo Tr gửi Công an xã An Tr A, huyện CL, tỉnh TV. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, bị cáo Tr thừa nhận hành vi dùng tay nấm đánh gây Thơng tích cho P.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về Thơng tích số: 228/22/TgT, ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế TV kết luận: Tỷ lệ tổn Thơng cơ thể do Thơng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lý Văn P là 41% và Cơ chế hình thành vết Thơng trên người của nạn nhân Lý Văn P là do ngoại lực tác động trực tiếp. Vật gây ra Thơng tích trên là vật tày cứng. Hướng từ trước ra sau.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CL thu giữ 01 cây dao bằng kim loại dài 40cm, mũi bằng, lưỡi dao dài 30cm, cán dao không có vỏ bọc dài 10cm và 01 đoạn tre khô dài 250cm.
Về trách nhiệm dân sự: Lý Văn P yêu cầu bồi Thờng tổng số tiền 152.690.000 đồng. Trong đó: Tiền chi phí điều trị thuốc, tiền xe, ăn uống là 13.190.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là 74.500.000 đồng và 65.000.000 đồng tiền ngày công lao động.
Hiện gia đình bị cáo Tr đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL số tiền 5.000.000 đồng để bồi Thờng thiệt hại cho bị hại P.
Tại bản cáo trạng số:29/CT-VKS-HS, ngày 01/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CL đã truy tố bị cáo Phạm Nhật Tr về tội “Cố ý gây Thơng tích” theo quy định tại điểm a, Khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Pên tòa hôm nay bị cáo Phạm Nhật Tr thừa nhận nội dung bản cáo trạng xác định hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, bị cáo không bổ sung gì thêm nội dung bản cáo trạng.
Tại Pên tòa hôm nay bị hại Lý Văn P có yêu cầu bị cáo Phạm Nhật Tr bồi Thờng tiền chi phí điều trị thuốc, tiền xe, ăn uống là 13.190.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là 74.500.000 đồng, và 65.000.000 đồng tiền ngày công lao động.
Vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo Phạm Nhật Tr về tội “Cố ý gây Thơng tích ”. Sau khi phân tích, đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, và đã nộp tiền khắc phục hậu quả một phần cho bị hại, bị hại cũng là người có lỗi, gia đình bị cáo có người thân có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a, khoản 2, Điều 134; Điều 38; điểm b,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Nhật Tr, phạm tội “Cố ý gây Thơng tích”, xử phạt bị cáo Phạm Nhật Tr từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/02/2023.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ Luật hình sự; khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 đoạn tre khô dài 250cm, để chuẩn bị tấn công bị hại, bị hại ông Lý Văn P chuẩn bị con dao bằng kim loại dài 40cm, mũi bằng, lưỡi dao dài 30cm, cán dao không có võ bọc dài 10cm là hung khí chuẩn bị phạm tội là tang vật của vụ án .
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 585;590; Điều 468 của Bộ luật dân sự, Nghị Quyết: 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm Phán Toà án nhân nhân tối cao.
Bị hại ông Lý Văn P có yêu cầu bị cáo Phạm Nhật Tr bồi Thờng tiền thuốc điều trị, tiền xe tái khám, ăn uống, tiền tổn thất tinh thần, tiền công lao động trong thời gian điều trị, tổng cộng là 152.690.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bồi Thờng tiền thuốc điều trị, tiền xe tái khám, tiền tổn thất tinh thần, tiền công lao động tính lỗi hổn hợp mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại cụ thể như sau:
- Tiền thuốc điều trị, tiền khám là: 3.840.867đ.
- Tiền tổn thất tinh thần: 50 tháng x 1.800.000đ = 90.000.000đ.
- Tiền xe 09 chuyến x 300.000đ x 02 người = 5.400.000đ.
- Tiền xe lấy giấy y chứng Thơng tích: 300.000đ.
- Tiền công lao động từ 20/3/2022 đến ngày 07/7/2022 (ngày tái khám cuối cùng) là 110 ngày x 200.000đ = 22.000.000đ.
Tổng cộng : 121.540.867đ x 50% = 60.770.000đ.
Trừ 5.000.000đ đã nộp khắc phục hậu quả. Buộc bị cáo Tr phải nộp thêm số tiền 55.770.000đ để bồi Thờng tiếp cho bị hại P.
Về án phí: bị cáo Phạm Nhật Tr phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, và tiền án phí dân sự theo qui định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại Pên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Pên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người liên quan, nhân chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại Pên tòa hôm nay bị cáo Phạm Nhật Tr đã khai nhận hết hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo Phạm Nhật Tr phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, và bị hại, phù hợp với lời khai các nhân chứng, và khóp với chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể bị cáo Phạm Nhật Tr dùng tay phải nấm đánh tác động ngoại lực trực tiếp trúng vào vùng mắt trái của bị hại P theo hướng từ trước ra sau, và gây Thơng tích cho ông Lý Văn P.
Tại bản kết luận giám định pháp y về Thơng tích số: 228/2023/TgT, ngày 23/12/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh TV, kết luận tỷ lệ tổn Thơng cơ thể do Thơng tích gây nên tại thời điểm giám định của Lý Văn P là 41%.
Với những tình tiết chứng minh trên, từ đó có đủ cơ sở qui kết bị cáo Phạm Nhật Tr phạm tội “Cố ý gây Thơng tích”, theo qui định điểm a, Khoản 2, Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại Lý Văn P. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương xãy ra vụ án, lẽ ra bị cáo phải biết cách dung hòa với bị hại Lý Văn P một cách lịch sự tế nhị hoà nhã, nhưng ở đây bị cáo không làm được mà còn hung hăn, tỏ ra hành động xem Thờng tính mạng, sức khỏe của người khác bằng cách dùng tay nấm lại đấm vào vùng mắt bên trái của ông P và làm cho bị hại P bị té ngã xuống mặt đất dẫn đến gây Thơng tích cho ông Lý Văn P . Hành vi của bị cáo là cố ý trái với pháp luật nên cần xử lý thật nghiêm. Cho nên việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Phạm Nhật Tr, cũng cần xem xét cho bị cáo Tr, tại thời điểm phạm tội bị cáo Tr có đầy đủ năng lực hành vi, biết nhận thức được việc làm nào đúng việc làm nào sai như bao người khác trong xã hội, sau khi bị khởi tố bị cáo Tr đã khai nhận hết hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả bồi Thờng cho bị hại bằng cách nộp 5.000.000 đồng tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện CL, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và đã tỏ ra ăn năn hối cải, lỗi một phần cũng do bị hại đến nhà kiếm bị cáo trước, sau đó bị cáo mới đến nhà bị hai sau và bị hại còn cầm dao dơ lên doạ chém bị cáo, gia đình bị cáo có người thân có công với cách mạng như: ông ngoại là Nguyễn Văn Rậm được Nhà N tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, và cậu ruột Nguyễn Văn Thành là Liệt sĩ, bà nội là Mẹ Việt Nam anh H, có 02 người bác ruột là Liệt sĩ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử nghĩ cần lên cho bị cáo Phạm Nhật Tr một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm giáo dục cho bị cáo, và phòng ngừa răn đe chung cho toàn xã hội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện CL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra ghi lời khai bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều đúng qui định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 585; 590 ; Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị Quyết: 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm Phán Toà án nhân nhân tối cao.
Do bị hại Lý Văn P sang nhà của bị cáo kiếm chuyện trước, và chính bị hại P là người cầm dao doạ chém bị cáo Tr trước, nên bị cáo Tr mới dùng tay đánh bị hại P, trong vụ án này xét về lỗi giữa bị cáo Tr với bị hại P là lỗi hỗn hợp nên bị hại P phải chịu 50% trách nhiệm lỗi, bị cáo Tr phải chịu 50% trách nhiệm lỗi do mình gây ra, các khoản chi phí hợp lý được tính như sau:
Buộc bị cáo Tr phải bồi Thờng cho bị hại Lý Văn P 50% tiền thuốc điều trị và tiền xe tái khám là: 9.540.867đ x 50% = 4.770.000đ.
Tiền tổn thất tinh thần 50% được tính bằng 25 tháng lương tối thiểu tại thời điểm xét xử là: 25 tháng x 1.800.000đ = 45.000.000đ.
Tiền công lao động thu nhập bị mất trong thời gian điều trị được tính bằng 50%, từ (ngày 20/3/2022 đến ngày tái khám cuối cùng 07/7/2022).
110 ngày x 200.000đ/ngày x 50% = 11.000.000đ.
Tổng cộng: 60.770.000 đồng.
Đối với phần yêu cầu bồi Thờng tiền ăn 2.200.000đ của bị hại P trong thời gian điều trị ngoại trú là không có căn cứ, nên không chấp nhận.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ Luật hình sự; khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 đoạn tre khô dài 250cm; 01 con dao bằng kim loại dài 40cm, mũi bằng, lưỡi dao dài 30cm, cán dao không có võ bọc dài 10cm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Nhật Tr phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Phạm Nhật Tr phải chịu 3.038.500 đồng tiền án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại Pên tòa, biết có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
Về quan điểm của vị kiểm sát viên tại Pên tòa hôm nay, truy tố bị cáo Phạm Nhật Tr về tội “Cố ý gây Thơng tích” là có căn cứ đúng pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuy n
Bị cáo Phạm Nhật Tr, phạm tội “ Cố ý gây Thơng tích”.
- Áp dụng: điểm a, Khoản 2, Điều 134; Điều 38; điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Nhật Tr, 02(hai) năm 06 (S) tháng tù.
Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo Tr bị bắt tạm giam ngày 18/02/2023.
- Về tr ch nhiệ d n s Căn cứ vào các Điều 584; 585; 590; và Điều 468 của Bộ luật dân sự ; Nghị Quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm Phán Toà án nhân nhân tối cao.
Buộc bị cáo Phạm Nhật Tr bồi Thờng cho bị hại Lý Văn P tiền thuốc điều trị, tiền xe, tiền tổn thất tinh thần, tiền công lao động bị mất, tổng cộng là 60.770.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bị hại Lý Văn P đòi bồi Thờng tiền ăn điều trị bệnh số tiền là 2.200.000 đồng.
Tiếp tục quản lý số tiền 5.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị T nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo Tr theo biên lai thu tiền số 0002326, ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CL, để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về v t chứng c a vụ n Căn cứ Điều 47 của Bộ Luật hình sự; khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 đoạn tre khô dài 250cm; 01 con dao bằng kim loại dài 40cm, mũi bằng, lưỡi dao dài 30cm, cán dao không có võ bọc dài 10cm.
- Về Án Ph áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thờng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Nhật Tr phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc Phạm Nhật Tr chịu 3.038.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi ánh án thì hàng tháng bên phải thi hành có nghĩa vụ chịu thêm mức lãi suất, theo qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại Pên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PÊN TÒA Nơi nh n:
| - TAND tỉnh TV; - Sở Tư pháp tỉnh TV; - VKSH. CL; - Công an huyện CL. - Bị cáo, bị hại và các đ/s; - Cơ quan thi hành án. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PÊN TÒA Lê Văn Tâm |