- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Trường K về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HS-PT. Ngày: 11/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Rết.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Hữu.
Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2023/TLPT-HS ngày 28/3/2023 đối với bị cáo Dương Trường K do có kháng cáo của bị cáo Dương Trường K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Dương Trường K; Sinh ngày 18/01/2000; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương D (Dương Văn D) và bà Sơn Thị B; Có vợ là Đỗ Thị Huỳnh Nh và 01 người con sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 113/2020/HSPT ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Dương Trường K bị xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2021; Bị tạm giữ từ ngày 12/8/2022 đến ngày 15/8/2022 chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
- Những người không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại Triệu T, Sơn Chành N, Kim D, Lâm K, Lâm Minh T, Thạch Sà P, Sơn N, Sơn L, Huỳnh Sô N; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tăng N, Tống Văn M, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Văn Đ, Đỗ Thị Huỳnh N, Ong Thị Sới M; Người làm chứng Thạch Thị Vành T, Kim H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2022, Dương Trường K đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại các chùa Khmer trên địa bàn thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 08 giờ ngày 13/5/2022, Dường Trường K điều khiển xe mô tô loại Dream biển số 60L4-XXXX đến Chùa C thuộc khóm C, Phường X, thị xã Vĩnh Châu tìm kiếm tài sản lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến Chùa C, K đi vào phía sau Sa La nơi ở của sư, phát hiện không có người nên đã lén vào trộm được 1.700.000 đồng và 01 (một) cái điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu đen của sư Triệu T và nhanh chóng tẩu thoát.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Vĩnh Châu, kết luận 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung màu đen có giá trị còn lại là 1.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Dương Trường K chiếm đoạt của bị hại Triệu T là 3.200.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Vào khoảng 08 giờ ngày 23/5/2022 Dường Trường K điều khiển xe mô tô loại Wave biển số 83H3-YYYY đến Chùa Đ thuộc ấp Đ, xã L, thị xã Vĩnh Châu để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến Chùa Đ, K thấy các sư đi ăn cơm nên lén đi vào trong Sa La nơi ở của sư, lấy trộm 04 (bốn) cái điện thoại di động của các sư gồm: 01 điện thoại hiệu Realme của sư Kim D; 01 điện thoại hiệu Iphone 7G của sư Lâm K; 01 điện thoại hiệu Oppo A54 của sư Lâm Minh T và 01 điện thoại hiệu Iphone 13 (do Trung Quốc sản xuất) của sư Sơn Chành N và lên xe tẩu thoát thì bị phát hiện nên có người đuổi theo nhưng không bắt được.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Vĩnh Châu, kết luận 04 cái điện thoại di động của các bị hại Sơn Chành N, Kim D, Lâm K, Lâm Minh T có tổng giá trị còn lại là 5.500.000 đồng.
- Vụ thứ ba: Vào khoảng 08 giờ ngày 29/7/2022 Dường Trường K điều khiển xe mô tô loại Wave biển số 83H3-YYYY đến Chùa T thuộc ấp T B, xã V, thị xã Vĩnh Châu để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến Chùa T, K thấy các sư đi ăn cơm nên lén đi vào trong Sa La nơi ở của sư, lấy trộm 01 (một) cái Laptop hiệu Lenovo, 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen, 01 cái máy tính bảng (Ipad) hiệu Samsung Galaxy Tab A8 màu trắng và 01 con heo đất bên trong có số tiền 1.000.000 đồng của sư Thạch Sà P rồi tẩu thoát.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Vĩnh Châu, kết luận 02 cái điện thoại di động (01 cái hiệu Vivo V23e và 01 cái hiệu Itel); 01 cái Laptop hiệu Lenovo, 01 cái máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A8 có tổng giá trị còn lại là 9.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Dương Trường K chiếm đoạt của bị hại Thạch Sà P là 10.600.000 đồng.
- Vụ thứ tư: Vào khoảng 11 giờ ngày 10/8/2022 Dường Trường K điều khiển xe mô tô loại Dame biển số 60L4-XXXX đến Chùa W thuộc khóm , phường V, thị xã Vĩnh Châu để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến Chùa W, K thấy các sư đi ăn cơm nên lén đi vào trong Sa La nơi ở của sư, lấy trộm 01 (một) cái Laptop hiệu JooYon J3R+, màu xám và 01 cái máy tính bảng (Ipad) hiệu Lenovo màu xám của sư Huỳnh Sô N rồi tẩu thoát.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Vĩnh Châu, kết luận 01 cái Laptop hiệu JooYon J3R+, màu xám và 01 cái máy tính bảng hiệu Lenovo có tổng giá trị còn lại là 8.000.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Trường K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Dương Trường K: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ từ ngày 12/8/2022.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 01/3/2023 bị cáo Dương Trường K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Dương Trường K giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Đơn kháng cáo của bị cáo lập và được Nhà tạm giữ Công an thị xã Vĩnh Châu xác nhận vào ngày 01/3/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ kết luận: Bị cáo Dương Trường K vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 13/5/2022 đến ngày 10/8/2022, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại là các vị sư đang tu tại các Chùa Khmer trên địa bàn thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng để thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại, cụ thể như sau: Vụ thứ nhất, vào khoảng 08 giờ ngày 13/5/2022, tại Chùa C thuộc khóm C, Phường X, thị xã Vĩnh Châu, bị cáo lén lút lấy trộm số tiền 1.700.000 đồng và 01 điện thoại Samsung màu đen của bị hại Triệu T, theo kết luận định giá điện thoại di động có giá trị là 1.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Triệu T là 3.200.000 đồng; Vụ thứ hai, vào khoảng 08 giờ ngày 23/5/2022, tại Chùa Đ thuộc ấp Đ, xã L, thị xã Vĩnh Châu, bị cáo lén lút lấy trộm 01 điện thoại hiệu Realme của bị hại Kim D, 01 điện thoại hiệu Iphone 7G của sư Lâm K, 01 điện thoại hiệu Oppo A54 của bị hại Lâm Minh T và 01 điện thoại hiệu Iphone 13 của bị hại Sơn Chành N, theo kết luận định giá tài sản 04 cái điện thoại di động có tổng giá trị còn lại là 5.500.000 đồng; Vụ thứ ba, vào khoảng 08 giờ ngày 29/7/2022, tại Chùa T thuộc ấp T B, xã V, thị xã Vĩnh Châu, bị cáo lấy trộm 01 cái Laptop hiệu Lenovo, 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen, 01 cái máy tính bảng (Ipad) hiệu Samsung Galaxy Tab A8 màu trắng và 01 con heo đất bên trong có số tiền 1.000.000 đồng của bị hại Thạch Sà P, theo kết luận định giá tài sản thì các tài sản này có giá trị là 9.600.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo lấy trộm là 10.600.000 đồng; Vụ thứ 4, vào khoảng 11 giờ ngày 10/8/2022, tại Chùa W thuộc khóm , phường V, thị xã Vĩnh Châu, bị cáo lấy trộm 01 cái Laptop hiệu JooYon J3R+, màu xám và 01 cái máy tính bảng (Ipad) hiệu Lenovo màu xám của bị hại Huỳnh Sô N, theo kết luận định giá có giá trị là 8.000.000 đồng. Tổng cộng giá trị các tài sản do bị cáo lấy trộm là 27.300.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Khi lượng hình đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đồng thời, xem xét, áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc Khmer có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng cho bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
Từ những cơ sở nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Trường K về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Dương Trường K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Dương Trường K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1- TAND tối cao (01); - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01); - TAND TX. Vĩnh Châu (02); - VKSND TX. Vĩnh Châu (01); - CQĐT - Công an TX. Vĩnh Châu (01); - CQTHAHS- Công an TX. Vĩnh Châu (01); - Chi cục THADS TX. Vĩnh Châu (01); - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Trại tạm giam- Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Sở Tư pháp (01); - Bị cáo (01); - Lưu HS, THS (04). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thái Rết |