vanban.org

Bản án 39/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn K phải chịu nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn K cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-PT
Ngày: 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Thư

Các thẩm phán:

Ông Lê Viết Phong

Bà Đinh Thị Quý Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Bà Đàm Thị Vang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thẩm thụ lý số 32/2023/HSPT ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Văn K

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Văn K, sinh năm 1994 tại Hà Nội, tên gọi khác: Không; hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1996 và có 02 người con Bùi Văn Quốc B, sinh năm 2015 và Bùi Văn T3, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ đầu năm 2022, Bùi Văn K bắt đầu thực hiện hoạt động cho vay tiền với mức lãi suất cao nhằm mục đích thu lợi. Với nguồn vốn ban đầu khoảng 150.000.000 triệu đồng, K cho những người có nhu cầu vay tiền trên địa bàn thị xã C, thành phố Đ, huyện Đ và thị xã P tỉnh Bình Phước vay tiền hình thức trả góp trong vòng 24 ngày, 25 ngày, 30 ngày hoặc thu tiền lãi hàng ngày. Những người vay tiền của K hầu hết là để kinh doanh, buôn bán nhỏ hoặc tiêu dùng cá nhân.

Về phương thức cho vay và thu tiền: Lợi dụng nhu cầu cần vay tiền nhanh, không phải làm các thủ tục vay như các tổ chức tín dụng của một số người dân, K đã sử dụng tiền cá nhân để cho nhiều người vay nhằm mục đích thu lợi. Ban đầu, K thông qua các trang mạng xã hội và giải tờ rơi để giới thiệu về việc cho vay, từ đó những người vay giới thiệu những người khác có nhu cầu vay tiền liên lạc với K qua điện thoại di động của K theo số điện thoại 0847852575. Khi vay, hầu hết không làm hợp đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không cầm cố tài sản, giấy tờ gì khác. Tùy theo từng người vay mà K cho vay với mức lãi suất từ 6.667 đồng đến 10.000 đồng cho 1.000.000 đồng/1 ngày. Như vậy, K cho vay với mức lãi suất từ 0,667%/ngày đến 01%/ngày, tương đương 20,288%/tháng đến 30,417%/tháng, tương đương 243,455%/năm đến 365%/năm, gấp từ 12,173 lần đến 18,25 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định (20%/năm). Người vay có thể trả tiền lãi cho K bằng tiền mặt hoặc thông qua hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 050095243603 ngân hàng S do K là người đứng tên chủ tài khoản. Khoa quản lý những người vay lãi bằng trang Mecash.VN và đăng nhập bằng hai tài khoản của K lập trên trang này gồm: tài khoản tên đăng nhập “Khoa”, mật khẩu “167602” và tài khoản tên đăng nhập “0847852575”, mật khẩu “123456”.

Trong thời gian từ tháng 3 năm 2022 đến ngày 20 tháng 9 năm 2022, Bùi Văn K đã cho 21 người vay tiền của trên địa bàn thị xã C, thành phố Đ, huyện Đ và thị xã P, cụ thể như sau:

Trên địa bàn thị xã C:

1. Bà Ngô Thị Ánh N: Từ ngày 22/03/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà N vay tổng cộng là 11 lần, với hình thức trả góp theo ngày cả gốc và lãi trong 24 ngày cho mỗi gói vay vay, trong đó:

Gói 1: Ngày 22/3/2022, bà N vay 20.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N phải trả là 24.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng. Góp đến ngày 19/4/2022 bà N đáo hạn lại cùng số tiền vay, mức góp và cũng đã góp xong. Như vậy, bà N vay 02 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng và đã góp được là 48.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N vay tiền là 9.472.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng).

Gói 2: Ngày 03/5/2022, bà N vay 30.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 1.500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 1.500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N phải trả là 36.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi 6.000.000 đồng. Góp đến ngày 09/5/2022, bà N đáo hạn lại cùng số tiền vay, mức góp và cũng đã góp xong. Như vậy, bà N vay 02 lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng và đã góp được là 72.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N vay tiền là 14.208.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 3.000.000 đồng).

Gói 3: Ngày 17/5/2022, bà N vay 40.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 2.000.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 2.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N phải trả là 48.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 40.000.000 đồng, tiền lãi 8.000.000 đồng và đã góp xong. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N vay tiền là 9.472.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng).

Gói 4: Ngày 26/5/2022, bà N vay 50.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 2.500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 2.500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N phải trả là 60.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 50.000.000 đồng, tiền lãi 10.000.000 đồng và đã góp xong. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N vay tiền là 11.972.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng).

Gói 5: Ngày 08/6/2022, bà N vay 70.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 3.500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 3.500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N phải trả là 84.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 70.000.000 đồng, tiền lãi 14.000.000 đồng. Sau đó, bà N đáo hạn lại thêm 04 cùng số tiền vay, mức góp. Lần đáo hạn thứ 4 vào ngày 28/7/2022, bà N đã góp được 11 ngày hiện còn nợ lại 45.500.000 đồng. Như vậy, bà N vay 05 lần với tổng số tiền 350.000.000 đồng và đã góp được là 374.500.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N vay tiền là 75.797.167 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 17.500.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà N vay tiền là 120.789.167 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 27.000.000 đồng). Bà N còn nợ K số tiền 37.916.667 đồng tiền gốc.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy T4:Do cần tiền để nhập hàng kinh doanh tạp hóa và sử dụng cho chi tiêu hàng ngày, nên từ ngày 15/6/2022 đến ngày 21/9/2022, bà T4 đã vay của K tổng cộng là 6 lần, mỗi lần bà T4 vay của K gói 15.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 750.000 đồnglãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 750.000 đồng tiền phí cho mỗi lần vay. Trong đó, 5 lần vay đầu bà T4 đã góp đủ, lần vay thứ 6 vào ngày 09/9/2022, bà T4 đã góp được 11 ngày hiện còn nợ lại 9.750.000 đồng. Như vậy, bà T4 vay 06 lần với tổng số tiền 90.000.000 đồng và đã góp được là 98.250.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà T4 vay tiền là 19.794.250 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 4.500.000 đồng). Bà T4 còn nợ K số tiền 8.125.000 đồng tiền gốc.

3. Bà Nguyễn Thị Quỳnh N1: Từ ngày 06/4/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà N1 vay tổng cộng là 4 lần, trong đó:

Gói 1: Ngày 06/4/2022, bà N1 vay 10.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N1 phải trả là 12.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng. Góp đến ngày 29/5/2022 bà N1 đáo hạn lại cùng số tiền vay, mức góp. Như vậy, bà N1 vay 02 lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng và đã góp được là 24.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N1 vay tiền là 4.736.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng).

Gói 2: Ngày 21/6/2022, bà N1 vay 15.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 750.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 750.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà N1 phải trả là 18.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng. Sau đó, bà N1 đáo hạn lại cùng số tiền vay, mức góp, bà N1 góp được 12 ngày hiện còn nợ 9.000.000 đồng. Như vậy, bà N1 vay 02 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng và đã góp được là 27.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N1 vay tiền là 5.703.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.500.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà N1 vay tiền là 10.439.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.500.000 đồng). Bà N1 còn nợ K số tiền 7.500.000 đồng tiền gốc.

4. Bà Lê Thị H: Do cần tiền để chi tiêu sinh hoạt hàng ngày, nên từ ngày 09/4/2022 đến ngày 21/9/2022, bà H đã vay của K tổng cộng là 11 lần, mỗi lần bà H vay của K gói 30.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.500.000 đồnglãi suất 01%/ngày. K thu thêm 1.500.000 đồng tiền phí cho mỗi lần vay. Trong đó, 10 lần vay trước bà H đã góp đủ, lần vay thứ 11 vào ngày 24/8/2022, bà H đã góp được 11 ngày hiện còn nợ lại 21.000.000 đồng. Như vậy, bà H vay 11 lần với tổng số tiền 330.000.000 đồng và đã góp được là 309.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà H vay tiền là 90.493.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 16.500.000 đồng). Bà H còn nợ K số tiền 16.800.000 đồng tiền gốc.

5. Phạm Thị L: Ngày 24/5/2022, bà L vay của K gói 20.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồnglãi suất 01%/ngày. K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Góp đến ngày 07/6/2022, bà L đáo hạn lại cùng số tiền vay, mức góp, bà L đã góp được 7 ngày hiện còn nợ lại 18.000.000 đồng. Như vậy, bà L vay 02 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng và đã góp được là 32.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà L vay tiền là 8.048.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng). Bà L còn nợ K số tiền 14.400.000 đồng tiền gốc.

6. Bà Nguyễn Thị Ánh T5: Từ ngày 05/8/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà T5 vay tổng cộng là 04 lần, mỗi lần bà T5 vay của K gói 10.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 500.000 đồnglãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 500.000 đồng tiền phí cho mỗi lần vay. Trong đó, 3 lần vay trước bà T5 đã góp đủ, lần vay thứ 4 vào ngày 9/9/2022, bà T5 đã góp được 13 ngày hiện còn nợ lại 5.500.000 đồng. Như vậy, bà T5 vay 04 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng và đã góp được là 42.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà T5 vay tiền là 8.615.833 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng). Bà T5 còn nợ K số tiền 4.583.333 đồng tiền gốc.

7. Lê Trí T6: Khoảng tháng 6/2022, ông T6 vay của K gói 5.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 250.000 đồnglãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 250.000 đồng tiền phí. Ông T6 đã góp được 10 ngày hiện còn nợ lại 3.500.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho ông T6 vay tiền là 639.167 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 250.000 đồng). Ông T6 còn nợ K số tiền 2.916.667 đồng tiền gốc.

8. Ông Lê Thế T7: Khoảng từ tháng 08/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho ông T7 vay tổng cộng là 6 lần, trong đó:

Gói 1: Ông T7 vay góp 4 lần gói 20.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay ông T7 trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, lãi suất 01%/ngày, thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền ông T7 phải trả cho mỗi lần vay là 25.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 5.000.000 đồng. Như vậy, ông T7 vay 04 lần với tổng số tiền 80.000.000 đồng và đã góp được là 100.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho ông T7 vay tiền là 22.900.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 4.000.000 đồng).

Gói 2: Ông T7 vay góp 2 lần gói 40.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay ông T7 trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 2.000.000 đồng, lãi suất 01%/ngày, thu thêm 2.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền ông T7 phải trả cho mỗi lần vay là 50.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 40.000.000 đồng, tiền lãi 10.000.000 đồng. Như vậy, ông T7 vay 02 lần với tổng số tiền 80.000.000 đồng và đã góp được là 100.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho ông T7 vay tiền là 22.900.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 4.000.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho ông T7 vay tiền là 45.800.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 8.000.000 đồng).

9. Cao Thị Thanh N2: Từ tháng 08/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà N2 vay tổng cộng là 03 lần, mỗi lần bà N2 vay của K gói 15.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 750.000 đồng,lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 750.000 đồng tiền phí cho mỗi lần vay. Trong đó, 2 lần vay trước bà N2 đã góp đủ, lần vay thứ 3 bà N2 đã góp được 4 ngày hiện còn nợ lại 15.000.000 đồng. Như vậy, bà N2 vay 03 lần với tổng số tiền 45.000.000 đồng và đã góp được là 39.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N2 vay tiền là 8.321.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.250.000 đồng). Bà N2 còn nợ K số tiền 12.500.000 đồng tiền gốc.

10. Đinh Thị Tuyết L1: Từ tháng 04/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà L1 vay là 02 lần, mỗi lần bà L1 vay của K gói 10.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 500.000 đồng,lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 500.000 đồng tiền phí cho mỗi lần vay. Trong đó, lần vay đầu bà L1 đã góp đủ, lần vay thứ 2 bà L1 đã góp được 8 ngày hiện còn nợ lại 8.00.000 đồng. Như vậy, bà L1 vay 02 lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng và đã góp được là 16.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà L1 vay tiền là 3.490.667 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng). Bà L1 còn nợ K số tiền 6.666.667 đồng tiền gốc.

Ngoài ra, trong thời gian trên bà L1 còn vay của K số tiền 30.000.000 đồng, với mức tiền đóng lãi ngày là 300.000 đồng/ngày (lãi suất 01%/ngày). Bà loan đã đóng tiền lãi cho K được 20 ngày với tổng số tiền là 6.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà L1 vay tiền là 5.671.232 đồng. Bà L1 còn nợ K số tiền 30.000.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà L1 vay tiền là 9.161.899 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng). Bà L1 còn nợ K 36.666.667 đồng tiền gốc.

11. Dương Thị D: Ngày 22/4/2022, bà D vay của K gói 20.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng,lãi suất 01%/ngày. K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí vay. Đến ngày 10/5/2022, bà D đáo cùng số tiền vay, mức góp và đã góp được 14 ngày hiện còn nợ lại 11.000.000 đồng. Như vậy, bà D vay 02 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng và đã góp được là 39.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà D vay tiền là 9.371.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng). Bà D còn nợ K số tiền 8.800.000 đồng tiền gốc.

12. Trần Hải Y: Khoảng từ tháng 04/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà Y vay tổng cộng là 10 lần, trong đó:

Gói 1: Bà Y vay góp 3 lần gói 15.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà Y trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 750.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 750.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà Y phải trả cho mỗi lần vay là 18.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng. Như vậy, bà Y1 vay 03 lần với tổng số tiền 45.000.000 đồng và đã góp được là 54.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà Y vay tiền là 10.656.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.250.000 đồng).

Gói 2: Bà Y vay góp 7 lần gói 20.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà Y trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà Y phải trả cho mỗi lần vay là 24.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng. Đối với 6 lần vây trước bà Y đã góp đủ, lần vay thứ 7 bà Y góp được 8 ngày hiện còn nợ lại 16.000.000 đồng. Như vậy, bà Y1 vay 07 lần với tổng số tiền 140.000.000 đồng và đã góp được là 152.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà Y vay tiền là 30.661.333 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 7.000.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà Y vay tiền là 41.317.333 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 9. 250.000 đồng). Bà Y còn nợ 13.333.333 đồng tiền gốc.

13. Ông Nguyễn Xuân L2: Từ tháng 08/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho ông L2 vay tổng cộng là 3 lần, trong đó:

Gói 1: Ông L2 vay góp gói 20.000.000 đồng, trả góp trong 30 ngày, mỗi ngày góp 800.000 đồng, lãi suất 0,667%/ngày. Tổng số tiền ông L2 phải trả là 24.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho ông L2 vay tiền là 3.670.000 đồng.

Gói 2: Ông L2 vay góp 2 lần gói 25.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay ông L2 trả góp trong 30 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, lãi suất 0,667%/ngày. Tổng số tiền ông L2 phải trả cho mỗi lần vay là 30.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 25.000.000 đồng, tiền lãi 5.000.000 đồng. Đối với lần vay thứ nhất ông L2 đã góp đủ, lần vay thứ hai mới góp được 15 ngày hiện còn nợ lại 15.000.000 đồng . Như vậy, ông L2 vay 02 lần với tổng số tiền 50.000.000 đồng và đã góp được là 45.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho ông L2 vay tiền là 6.881.250 đồng.

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho ông L2 vay tiền là 10.551.250 đồng. Ông L2 còn nợ lại 12.500.000 đồng tiền gốc.

14. Nguyễn Thị H1: Khoảng từ tháng 03/2022 đến 04/2022, K đã cho bà H1 vay tổng cộng là 2 lần, mỗi lần vay gói 5.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà H1 trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 250.000 đồng, lãi suất 01%/ngày, K thu thêm 500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà H1 phải trả cho mỗi lần vay là 6.250.000 đồng, trong đó tiền gốc 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.250.000 đồng. Như vậy, bà H1 vay 02 lần với tổng số tiền 10.000.000 đồng và đã góp được là 12.500.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà H1 vay tiền là 3.362.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng).

15. Nguyễn Thị T8: Từ ngày 19/5/2022 đến 04/2022, K đã cho bà T8 vay tổng cộng là 5 lần, mỗi lần vay gói 30.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà T8 trả góp trong 30 ngày, mỗi ngày góp 1.200.000 đồng, lãi suất 0,677%/ngày, K thu thêm 1.200.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà T8 phải trả cho mỗi lần vay là 36.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi 6.000.000 đồng. Trong đó, 4 lần vay trước bà T8 đã góp đủ, lần vay thứ 5 đã góp được 15 ngày hiện còn nợ lại 18.000.000 đồng. Như vậy, bà T8 vay 05 lần với tổng số tiền 150.000.000 đồng và đã góp được là 162.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà T8 vay tiền là 30.772.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 6.000.000 đồng). Bà T8 còn nợ K 15.000.000 đồng tiền gốc.

Ngoài ra, ngày 06/9/2022 bà T8 còn vay của K số tiền 10.000.000 đồng, với mức tiền đóng lãi ngày là 67.000 đồng/ngày (lãi suất 0,667%/ngày). Hiện vẫn chưa thu được tiền lãi. Bà T8 còn nợ K số tiền 10.000.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà T8 vay tiền là 30.772.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 6.000.000 đồng). Bà T8 còn nợ lại 25.000.000 đồng tiền gốc.

16. Nguyễn Thị B1: Từ tháng 20/4/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà B1 vay tổng cộng là 5 lần, trong đó:

Gói 1: Ngày 20/4/2022, bà B1 vay góp gói 5.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 250.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 250.000 đồng tiền phí. Bà B1 đã góp xong. Số tiền bà B1 đã trả là 6.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà B1 vay tiền là 1.184.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 250.000 đồng).

Gói 2: Ngày 27/4/2022, bà B1 vay góp gói 10.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà B1 trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà B1 phải trả cho mỗi lần vay là 12.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng. Đến ngày 14/6/2022, bà B1 đáo hạn lại cùng số tiền vay, mức góp và cũng đã góp xong. Như vậy, bà B1 vay 02 lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng và đã góp được là 24.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà B1 vay tiền là 4.736.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng).

Gói 3: Ngày 21/5/2022, bà B1 vay góp gói 6.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 300.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 300.000 đồng tiền phí. Bà B1 đã góp xong. Số tiền bà B1 đã trả là 7.200.000 đồng, trong đó tiền gốc 6.000.000 đồng, tiền lãi 1.200.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà B1 vay tiền là 1.420.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 300.000 đồng).

Gói 4: Ngày 07/7/2022, bà B1 vay góp gói 15.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 750.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 750.000 đồng tiền phí. Bà B1 đã góp được 16 ngày, còn nợ số tiền 6.000.000 đồng. Số tiền bà B1 phải trả là 18.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà B1 vay tiền là 2.618.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 750.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà B1 vay tiền là 9.958.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.300.000 đồng). Bà B1 còn nợ lại 5.000.000 đồng tiền gốc.

17. Thái Thị H2: Từ tháng 11/4/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà H2 vay tổng cộng là 07 lần, mỗi lần bà H2 vay của K gói 10.000.000 đồng, trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng,lãi suất 01%/ngày. K thu thêm 1.500.000 đồng tiền phí cho 3 lần vay đầu, lần thứ 4 Khoa thu 300.000 đồng các lần vay sau không mất phí vay. Số tiền bà H2 phải trả mỗi lần vay là 12.500.000 đồng, trong đó tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.500.000 đồng. Tất cả các lần vay bà H2 đã góp xong. Như vậy, bà H2 vay 07 lần với tổng số tiền 70.000.000 đồng và đã góp được là 87.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà N2 vay tiền là 18.337.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.800.000 đồng).

18. Ông Đỗ Thanh T9: Từ tháng 05/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho ông T9 vay tổng cộng là 4 lần, trong đó:

Gói 1: Bà T9 vay góp của K 3 lần gói 5.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà T9 trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 250.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 250.000 đồng tiền phí cho lần vay đầu, các lần vay sau không thu phí. Tổng số tiền bà T9 phải trả cho mỗi lần vay là 6.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng. Cả 3 lần vay bà T9 đã góp xong. Như vậy, bà T9 vay 03 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng và đã góp được là 18.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà T9 vay tiền là 3.052.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 250.000 đồng).

Gói 2: Bà T9 vay góp gói 10.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày. Số tiền bà B1 đã trả là 12.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà T9 vay tiền là 1.868.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà T9 vay tiền là 4.920.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 250.000 đồng).

19. Lê Thị H3: Từ tháng 4/2022 đến ngày 21/9/2022, bà H3 vay của K gói 20.000.000 đồng, trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng,lãi suất 0,833%/ngày. K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Số tiền bà H3 phải trả là 24.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng. Như vậy, bà H3 vay số tiền 20.000.000 đồng và đã góp được là 24.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà H3 vay tiền là 4.736.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng).

20. Đào Thị Kim C: Khoảng từ tháng 04/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà C vay tổng cộng là 6 lần, trong đó:

Gói 1: Bà C vay góp 2 lần gói 10.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà C trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 500.000 đồng, lãi suất 01%/ngày, K thu thêm 500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà C phải trả cho mỗi lần vay là 12.500.000 đồng, trong đó tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.500.000 đồng. Như vậy, bà C vay 02 lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng và đã góp được là 25.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà C vay tiền là 5.725.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.000.000 đồng).

Gói 2: Bà C vay góp 2 lần gói 20.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà C trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, lãi suất 01%/ngày, K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà C phải trả cho mỗi lần vay là 25.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 5.000.000 đồng. Như vậy, bà C vay 02 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng và đã góp được là 50.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà C vay tiền là 11.450.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 2.000.000 đồng).

Gói 3: Bà C vay góp 2 lần gói 26.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà C trả góp trong 25 ngày, mỗi ngày góp 1.300.000 đồng, lãi suất 01%/ngày, K thu thêm 1.300.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà C phải trả cho mỗi lần vay là 32.500.000 đồng, trong đó tiền gốc 26.000.000 đồng, tiền lãi 6.500.000 đồng. Lần vay đầu bà C đã góp xong, lần 2 đã góp được 10 ngày còn nợ 19.500.000 đồng. Như vậy, bà C vay 02 lần với tổng số tiền 52.000.000 đồng và đã góp được là 45.500.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà C vay tiền là 10.199.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 1.600.000 đồng).

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà C vay tiền là 27.374.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 4.600.000 đồng). Bà C còn nợ 15.600.000 đồng tiền gốc.

21. Bà Nguyễn Thị Thanh H4: Từ ngày 28/5/2022 đến ngày 21/9/2022, K đã cho bà H4 vay tổng cộng là 12 lần, trong đó:

Gói 1: Bà H4 vay góp 5 lần gói 20.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà H4 trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 1.000.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà H4 phải trả cho mỗi lần vay là 24.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng. Như vậy, bà H4 vay 05 lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng và đã góp được là 120.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà H4 vay tiền là 23.680.000 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 5.000.000 đồng).

Gói 2: Bà H4 vay góp 7 lần gói 30.000.000 đồng, đối với mỗi lần vay bà H4 trả góp trong 24 ngày, mỗi ngày góp 1.500.000 đồng, lãi suất 0,833%/ngày, K thu thêm 1.500.000 đồng tiền phí. Tổng số tiền bà H4 phải trả cho mỗi lần vay là 36.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi 6.000.000 đồng. Trong đó, 6 lần vay đầu bà H4 đã góp xong, lần 7 đã góp được 15 ngày còn nợ 13.500.000 đồng. Như vậy, bà H4 vay 07 lần với tổng số tiền 210.000.000 đồng và đã góp được là 238.500.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính K đã thu được khi cho bà H4 vay tiền là 47.626.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 10.500.000 đồng). Bà H4 còn nợ lại 11.250.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tổng số tiền K đã thu lợi bất chính khi cho bà H4 vay tiền là 71.306.500 đồng (trong đó tiền phí cho vay là 15.500.000 đồng). Bà H4 còn nợ lại 11.250.000 đồng tiền gốc

Vậy, Bùi Văn K cho 21 người trên địa bàn thị xã C, thành phố Đ, huyện Đ và thị xã P vay tổng số tiền 481.000.000 đồng, thu lợi bất chính tổng số tiền 533.162.000 đồng.

Quá trình điều tra thu giữ:

Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng S, số tài khoản 050095243603, 01 (một) căn cước công dân tên Bùi Văn K số 066094014229 cấp ngày 27 tháng 12 năm 2021, là những giấy tờ chứa thông tin cá nhân của Bùi Văn K.

01 xe mô tô biển số 72E1-227.12 nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS và và 01 điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu BLACK SHARK, Số tiền 5.000.000đ của Bùi Văn K.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/3/2023 bị cáo Bùi Văn K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội cũng như nội dung bản án sơ thẩm đã nhận định. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo Bùi Văn K 02 năm tù là phù hợp, không nặng so với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác so với cấp sơ thẩm. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2022.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn K phải chịu nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ