- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L- N ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ VĨNHLONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày 05-5-2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Thanh Tân
Bà Nguyễn Thị Kim Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, về việc tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXX-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1981(có mặt).
Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Chị Ngô Thanh N, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/12/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Đỗ Văn L trình bày:
- Về hôn nhân: Anh L và chị N quen biết và tìm hiểu khoảng 02 tháng thì đi đến hôn nhân, có tổ chức L cưới theo phong tục truyền thống vào năm 2003 và đăng ký kết hôn vào ngày 05/11/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã V (nay là TP. V). Vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 20 năm. Đến đầu năm 2022, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, bất đồng quan điểm với nhau, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị N thường xuyên sử dụng chất gây nghiện (heroin), sa vào tệ nạn không lo làm ăn phụ giúp gia đình nên kinh tế gia đình gặp rất nhiều khó khăn, kiệt quệ. Từ đó vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau nên cuộc sống không hạnh phúc.
Khoảng năm 2010 chị N được đưa đi cai nghiện ma túy 24 tháng nhưng về vẫn tiếp tục sử dụng. Anh và gia đình nhiều lần khuyên chị N từ bỏ ma túy để lo làm ăn nhưng chị N không thay đổi. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay. Hiện anh đang sống tại ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Anh xác định không còn tình cảm với chị Ngô Thanh N, yêu cầu được ly hôn chị Ngô Thanh N.
Hiện bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của anh và chị N đã bị thất lạc do chuyển chổ ở nhiều lần bị mất nên không cung cấp cho Tòa án được.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh và chị N có 01 con chung tên Đỗ Thanh N1, sinh ngày 21/12/2003 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh và chị N không có tài sản chung; không có nợ chung cũng không có ai nợ anh chị, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh L cam kết trình bày đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình, anh xin ly hôn không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ gì khác.
Bị đơn Ngô Thanh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không có bất kỳ ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không trình bày gì thêm. Anh cũng không giao nộp bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào; bị đơn Ngô Thanh N vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Anh Đỗ Văn L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị Ngô Thanh N là được quyền khởi kiện. Chị N cư trú tại thành phố Vĩnh Long. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Cụ thể: Phiên tòa lần thứ nhất ngày 13/4/2023, phiên tòa lần thứ hai ngày 05/5/2023 nhưng đều vắng mặt, không lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Anh L và chị N tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 05/11/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã V (nay là TP. V) nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Về mâu thuẫn vợ chồng:
Theo lời trình bày của anh L và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định từ năm 2022 cuộc sống vợ chồng của anh L và chị N đã mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau nên cuộc sống không hạnh phúc. Anh L và chị N đã sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay. Anh xác định không còn tình cảm với chị Ngô Thanh N, giữ nguyên cầu được ly hôn với chị N.
Xét thấy, từ tháng 11/2022 chị N và anh L đã sống ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N đã được tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng đều không có văn bản trình bày ý kiến, không phản đối các yêu cầu, tình tiết sự kiện theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho anh L và chị N ly hôn với nhau là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Việc anh L cho rằng chị N sử dụng chất gây nghiện (heroin) và đã từng bị đưa đi cai nghiện nhưng ngoài lời trình bày, anh L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử nhận định trong vụ án này.
[2.3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh L và chị N có 01 con chung tên Đỗ Thanh N1, sinh ngày 21/12/2003, đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh L xác định: Trong thời kỳ hôn nhân anh và chị N không có tài sản chung; không có nợ chung cũng không có ai nợ anh chị, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm:
Anh Đỗ Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001796 ngày 12/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Anh L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144, khoản 4 Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Đỗ Văn L với chị Ngô Thanh N.
2. Về con chung: Anh L và chị N có 01 con chung tên Đỗ Thanh N1, sinh ngày 21/12/2003, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh L xác định trong thời kỳ hôn nhân anh và chị N không có tài sản chung; không có nợ chung cũng không có ai nợ anh chị, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Đỗ Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001796 ngày 12/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Anh L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án tại chính quyền địa phương để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL; - Các đương sự; - THADS TPVL; - VKSND TPVL; - UBND Phường A, TP. V (Giấy CNKH số 169, quyển 01, ngày 05/11/2003); - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị MỹThuận |