vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nông Tuấn C.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố ông Nông Tuấn C được ly hôn bà Đặng Thị H. Về con chung: Giao con chung Nông Đặng Bảo M, sinh ngày 27/11/2011 cho ông C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nông Tuấn C.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-7- 2023
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hòa

2. Ông Nông Văn Vụ

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hương Giang là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc giải quyết vụ án: Bà Vũ Thị Anh

- Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 7 năm 2023, Tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST-HNGĐ Ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nông Tuấn C, sinh năm: 1969, có mặt.

- Bị đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm: 1987, vắng mặt. Cùng địa chỉ: Tổ 10, phường N.X, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2023, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nông Tuấn C trình bày:

Về hôn nhân: Tôi là Nông Tuấn C kết hôn với bà Đặng thị H ngày 15/12/2010 tại Ủy ban nhân dân phường N.X, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn bà Đặng Thị H về chung sống cùng nhau tại tổ 17 cũ (nay là tổ 10) phường N.X, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và có 01 con chung tên Nông Đặng Bảo M, sinh ngày 27/11/2011. Quá trình chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2018 bà H nói đi học nghề làm đầu mấy tháng ở Hà Nội. Nhưng kể từ ngày bà H nói là đi học làm đầu, bà H đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2018 cho đến nay không trở về lần nào nữa. Tôi đã cố gắng liên lạc, tìm kiếm bà H nhưng đều không có thông tin liên lạc và không biết bà H đang ở đâu. Hiện bà Đặng Thị H đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú được bốn năm, không còn có trách nhiệm gì với gia đình, với con chung nên tôi xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà H, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Ông và bà H có 01 con chung họ tên là: Nông Đặng Bảo M, sinh ngày 27/11/2011. Hiện nay con đang sống cùng bố, khi ly hôn yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu bà H trợ cấp nuôi con chung.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn bà H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên không có lời khai trong hồ sơ và thuộc trường hợp giải quyết vắng mặt.

*Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có ý kiến gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Ông Nông Tuấn C kết hôn với bà Đặng Thị H năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, hôn nhân được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới ở hai gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N.X, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo quy định của pháp luật, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà H đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2018 cho đến nay không trở về lần nào nữa. Nay Tòa án đã có Quyết định tuyên bố bà H mất tích, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ông C được ly hôn bà H.

Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh và lời khai của ông C xác định, ông C bà H có 01 con chung tên Nông Đặng Bảo M, sinh ngày 27/11/2011, ông C có nguyện vọng được nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của con Nông Đặng Bảo M, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về Cấp dưỡng nuôi con chung: Ông C không yêu cầu trợ cấp nuôi con chung nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Ông C xác định không có tài sản chung, vay nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đặng Thị H có quan hệ hôn nhân với ông Nông Tuấn C, địa chỉ: Tổ 10, phường N.X, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Nay ông C khởi kiện xin ly hôn với bà H, nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nông Tuấn C kết hôn với bà Đặng Thị H năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, hôn nhân được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới ở hai gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N.X, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo quy định của pháp luật, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bà H đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2018 cho đến nay không trở về lần nào nữa. Nay Tòa án đã có Quyết định tuyên bố bà H mất tích, hạnh phúc hôn nhân từ năm 2018 đến nay không đạt được và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. HĐXX xét thấy việc bà H mất tích đã làm cho cuộc sống hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu của ông C là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh và lời khai của ông C xác định, ông C bà H có 01 con chung tên Nông Đặng Bảo M, sinh ngày 27/11/2011, ông C có nguyện vọng được nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của con Nông Đặng Bảo M, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về Cấp dưỡng nuôi con chung: Ông C không yêu cầu trợ cấp nuôi con chung nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Ông C xác định không có tài sản chung, vay nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 các Điều 28, 35, 39; Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 51, Điều 56 và các Điều 81, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nông Tuấn C.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố ông Nông Tuấn C được ly hôn bà Đặng Thị H.

- Về con chung: Giao con chung Nông Đặng Bảo M, sinh ngày 27/11/2011 cho ông C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).

- Về án phí: Ông Nông Tuấn C phải chịu nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0003419 ngày 07/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/7/2023.

Cỡ chữ