vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

I. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” của bà Trần Thị Diễm H đối với ông Nguyễn Ngọc V. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Diễm H được ly hôn ông Nguyễn Ngọc V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Diễm H + Nguyễn Ngọc V"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-8-2023
Về việc tranh chấp “Ly hôn và
nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sỹ

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Phƣớc Khánh Toàn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diễm H - sinh năm 1982; Địa chỉ: Đường D, tổ H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc V - sinh năm 1983; Địa chỉ: Đường D, tổ H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thị Diễm H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm H và ông Nguyễn Ngọc V kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng về sinh sống tại phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Trong quá trình sinh sống thì từ năm 2013 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, ông V không tin tưởng, thường xuyên kiểm soát cuộc sống của bà H. Ngoài ra ông V thường xuyên uống rượu, gây gỗ rồi đánh đập bà H gây thương tích. Bà H đã 02 lần yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn nhưng vì con cái, ông V hứa hẹn thay đổi nên đã rút đơn để đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, sau khi rút đơn, mâu thuẫn vợ chồng cứ liên tục tái diễn như cũ. Do đó, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Diễm H xác nhận vợ chồng có 03 con chung là: Nguyễn Chiêu N - sinh ngày 27.05.2007; Nguyễn Chiêu P – sinh ngày 29.02.2012 và Nguyễn Hàn Mộc M – sinh ngày 19.03.2013.

Công việc của ông V thường xuyên đi công tác xa; các con đều có nguyện vọng ở với mẹ nên nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì nguyện vọng của bà Trần Thị Diễm H là được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Diễm H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Bị đơn - ông Nguyễn Ngọc V vắng mặt tại phiên tòa nhƣng tại Bản tự khai ngày 10.5.2023 và Biên bản hòa giải ngày 10.5.2023 và 05.6.2023 trình bày nhƣ sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện kết hôn thì ông Nguyễn Ngọc V và bà Trần Thị Diễm H kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng về sinh sống tại phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Trong quá trình sinh sống thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Ông V thừa nhận lúc nóng nảy thì có xúc phạm, đánh đập vợ. Nay ông Vũ h cố gắng thay đổi và mong muốn đoàn tụ gia đình vì vẫn còn yêu thương vợ con, mong muốn con cái có đầy đủ cha mẹ. Đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ gia đình.

- Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Ngọc V xác nhận vợ chồng có 03 con chung là: Nguyễn Chiêu N - sinh ngày 27.05.2007; Nguyễn Chiêu P – sinh ngày 29.02.2012 và Nguyễn Hàn Mộc M – sinh ngày 19.03.2013.

Các con có nguyện vọng ở với mẹ nên nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông Nguyễn Ngọc V thống nhất giao 03 con chung cho bà H nuôi dưỡng và ông V không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Ngọc V khai nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Nguyễn Ngọc V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại BLTTDS, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Quá trình tòa án thụ lý giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã có ý kiến trình bày quan điểm của mình và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS; mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham dự phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Diễm H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc V; giao 03 con chung là Nguyễn Chiêu N - sinh ngày 27.05.2007; Nguyễn Chiêu P – sinh ngày 29.02.2012 và Nguyễn Hàn Mộc M – sinh ngày 19.03.2013 cho bà Trần Thị Diễm H trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung thì các bên đương sự khai nhận không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn bà Trần Thị Diễm H với bị đơn ông Nguyễn Ngọc V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa ông Nguyễn Ngọc V vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc V.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Diễm H đối với ông Nguyễn Ngọc V thì thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm H và ông Nguyễn Ngọc V kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận ký kết hôn số 94 ngày 13.9.2006, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống bà Trần Thị Diễm H và ông Nguyễn Ngọc V thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, xô xát do bất đồng quan điểm. Bà H và ông V đã 02 lần giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nhưng được hòa giải đoàn tụ gia đình theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình số 63/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08.7.2020 và số 16/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01.02.2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu. Chính quyền địa phương nơi ông Nguyễn Ngọc V và bà Trần Thị Diễm H chung sống xác nhận việc vợ chồng bà H, ông V có xảy ra mâu thuẫn là sự thật. Trong quá trình giải quyết vụ án ông V trình bày nguyện vọng đoàn tụ gia đình nhưng thực tế hai vợ chồng vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Nguyễn Ngọc V vắng mặt không có lý do, bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà H và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị Diễm H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Diễm H và ông Nguyễn Ngọc V xác nhận vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Chiêu N - sinh ngày 27.05.2007; Nguyễn Chiêu P – sinh ngày 29.02.2012 và Nguyễn Hàn Mộc M – sinh ngày 19.03.2013. Bà Trần Thị Diễm H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

HĐXX xét thấy, ông V thường xuyên đi làm xa nên các con chung chủ yếu do bà H trực tiếp chăm sóc; các con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án ông V thống nhất theo nguyện vọng của con chung, đồng ý giao bà H trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nếu Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Diễm H về việc nuôi con, giao các cháu Nguyễn Chiêu N; Nguyễn Chiêu P và Nguyễn Hàn Mộc M cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà Trần Thị Diễm H không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.

Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Diễm H và ông Nguyễn Ngọc V khai nhận không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Diễm H phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân, gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

I. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” của bà Trần Thị Diễm H đối với ông Nguyễn Ngọc V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Diễm H được ly hôn ông Nguyễn Ngọc V.

2. Về quan hệ con chung: Giao 03 con chung Nguyễn Chiêu N - sinh ngày 27.05.2007; Nguyễn Chiêu P – sinh ngày 29.02.2012 và Nguyễn Hàn Mộc M – sinh ngày 19.03.2013 cho bà Trần Thị Diễm H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Ngọc V không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Diễm H và ông Nguyễn Ngọc V khai nhận không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

II. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Diễm H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0007829 ngày 17.3.2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị Diễm H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thihành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ